Chuyên gia RMIT cảnh báo nguy cơ Việt Nam lệ thuộc FDI ngành điện tử

Nhóm nghiên cứu từ Đại học RMIT cho rằng sự thống trị của doanh nghiệp FDI khiến lan tỏa công nghệ sang doanh nghiệp Việt bị hạn chế, làm giảm hiệu quả nâng cao năng suất.

 Ngành công nghiệp điện tử đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Ảnh minh họa: Andrew Brookes.

Ngành công nghiệp điện tử đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Ảnh minh họa: Andrew Brookes.

Theo nhóm nghiên cứu thuộc Khoa Kinh doanh, Đại học RMIT Việt Nam, ngành công nghiệp điện tử nổi lên như một điểm sáng về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam.

Những tập đoàn lớn như Samsung, Intel hay LG nhiều năm liền nằm trong nhóm nhà đầu tư FDI lớn nhất tại Việt Nam. Riêng năm ngoái, khối FDI chiếm tới 98% kim ngạch xuất khẩu điện tử, tương đương 126,5 tỷ USD, khoảng 1/3 tổng xuất khẩu cả nước.

Điều này cho thấy vai trò quan trọng của FDI đối với sản xuất và tăng trưởng kinh tế Việt Nam, trong đó có đóng góp vào chuyển giao công nghệ, cải thiện quản lý và năng suất cho doanh nghiệp trong nước.

Doanh nghiệp Việt chỉ đạt 64% mức công nghệ FDI

Tuy vậy, nghiên cứu của TS Nguyễn Châu Trinh (giảng viên Kinh tế) và các cộng sự tại RMIT cho thấy khoảng cách công nghệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước vẫn rất lớn, cho thấy mức lan tỏa công nghệ còn hạn chế.

"Sự hiện diện áp đảo của các doanh nghiệp FDI trong chuỗi giá trị có thể gia tăng cạnh tranh, đẩy lùi các doanh nghiệp trong nước hoặc kìm hãm họ trong các phân khúc có giá trị gia tăng thấp với ít cơ hội nâng cấp công nghệ", TS Trinh cảnh báo.

Kết quả nghiên cứu dựa trên dữ liệu điều tra doanh nghiệp của Cục Thống kê và các phương pháp phân tích năng suất cho thấy doanh nghiệp trong nước có tiến bộ về quản lý nhờ quan sát mô hình vận hành của các "ông lớn" FDI. Tuy nhiên, về công nghệ, mức cải thiện rất ít.

Trung bình, doanh nghiệp nội chỉ hoạt động ở mức khoảng 64% so với "đường biên công nghệ" mà doanh nghiệp FDI tạo ra, và khoảng cách này gần như không thu hẹp từ năm 2011 đến 2020.

 Hiệu quả quản lý và tỷ lệ công nghệ trong ngành điện tử Việt Nam. Ảnh: Nhóm tác giả tổng hợp dựa trên dữ liệu điều tra doanh nghiệp Việt Nam VES.

Hiệu quả quản lý và tỷ lệ công nghệ trong ngành điện tử Việt Nam. Ảnh: Nhóm tác giả tổng hợp dựa trên dữ liệu điều tra doanh nghiệp Việt Nam VES.

PGS Phạm Thị Thu Trà, đồng tác giả nghiên cứu, cho biết có sự lệch pha rõ rệt giữa lan tỏa về quản lý và lan tỏa về công nghệ. "Nhà cung cấp hay khách hàng FDI không phải lúc nào cũng mang lại cả hai", bà nói.

Theo nhóm nghiên cứu, một trong những nguyên nhân chính nằm ở cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu của ngành điện tử, bởi công nghệ cốt lõi và thiết kế sản phẩm thường do các tập đoàn dẫn dắt chuỗi nắm giữ chặt chẽ ở nước ngoài.

Nếu không có yêu cầu liên doanh hay liên kết bắt buộc, việc chia sẻ công nghệ qua quan hệ đối tác hoặc mối quan hệ với nhà cung cấp như thông thường sẽ rất hiếm hoi.

Dù vậy, theo TS Hà Thị Cẩm Vân, Chủ nhiệm bộ môn Kinh tế tại RMIT, yếu tố quản lý lại có khả năng lan tỏa mạnh hơn, vì dễ quan sát và không mang tính độc quyền. "Những chuẩn mực quản lý cao của doanh nghiệp FDI có thể kéo mặt bằng chung của ngành lên, từ đó thúc đẩy năng suất", bà nói.

Xem xét lại các chiến lược FDI

Các phát hiện từ nghiên cứu của RMIT cho thấy tác động của FDI lên doanh nghiệp Việt không giống nhau. Cụ thể, nhóm doanh nghiệp FDI đến từ Hàn Quốc và Nhật Bản - hai nguồn vốn lớn nhất trong ngành điện tử - thường vận hành theo mô hình khép kín, mang theo hệ thống nhà cung cấp riêng và ít kết nối với doanh nghiệp trong nước.

Ngược lại, nhà đầu tư đến từ ASEAN và Trung Quốc có phần cởi mở hơn ở một số phân khúc, nên doanh nghiệp Việt có cơ hội nhận được một phần lợi ích về quản lý và công nghệ, dù mức độ vẫn khá khiêm tốn.

Tác động của FDI cũng thay đổi tùy vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị. Ở khâu thượng nguồn, tức doanh nghiệp FDI đóng vai trò nhà cung cấp, ví dụ trong sản xuất linh kiện kim loại, doanh nghiệp trong nước được hưởng lợi khi chất lượng đầu vào tốt hơn, từ đó tăng năng suất.

Trong khi đó, ở khâu hạ nguồn, khi doanh nghiệp FDI đóng vai trò khách hàng như trong ngành nhựa, sức ép cạnh tranh khiến doanh nghiệp trong nước buộc phải nâng cấp công nghệ. Điều này giúp họ tiến bộ về kỹ thuật nhưng lại làm hiệu quả quản lý bị suy giảm.

Dù vậy, nhóm nghiên cứu cũng nhấn mạnh phần lớn mức tăng năng suất của doanh nghiệp điện tử trong nước thời gian qua chủ yếu đến từ nỗ lực tự thân, như đổi mới công nghệ hay đầu tư nhân lực, hơn là nhờ tác động lan tỏa từ FDI.

Những phát hiện này cho thấy Việt Nam cần thận trọng trong chính sách thu hút FDI. FDI giúp kéo xuất khẩu tăng mạnh, nhưng nếu chỉ dồn lực thu hút vốn mà thiếu giải pháp đi kèm, Việt Nam có nguy cơ rơi vào tình trạng "càng nhiều lại càng thiệt".

Khi đó, doanh nghiệp FDI mở rộng nhưng năng lực doanh nghiệp trong nước không được nâng lên, và các doanh nghiệp nội địa sẽ mãi trói chặt quanh chiếc khung trung tâm lắp ráp thay vì bật lên là một trung tâm đổi mới sáng tạo.

Để tránh rơi vào "bẫy" này, nhóm nghiên cứu khuyến nghị Nhà nước cần thúc đẩy liên kết sâu hơn giữa doanh nghiệp nội và doanh nghiệp FDI, thông qua chính sách khuyến khích sử dụng vật liệu và nhà cung cấp trong nước.

Đồng thời, khuyến khích các dự án nghiên cứu và phát triển (R&D) và dự án phát triển chung, đặc biệt là với các đối tác trong khối ASEAN và Trung Quốc, những thị trường có xu hướng hợp tác trong chuỗi cung ứng bao trùm hơn.

Song song đó, cần ưu tiên chính sách giúp doanh nghiệp Việt học hỏi, tiếp thu tri thức và nâng cấp năng lực công nghệ, thay vì chỉ tập trung thu hút FDI.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng công nghệ cao, nhóm chuyên gia nhận định thách thức lớn nhất là làm sao để dòng vốn ngoại không chỉ mang lại kim ngạch xuất khẩu mà còn thật sự giúp doanh nghiệp trong nước mạnh lên.

TS Đào Lê Trang Anh, đồng tác giả nghiên cứu, cho rằng các chính sách yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa phù hợp có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt.

Liên Phạm

Nguồn Znews: https://znews.vn/chuyen-gia-rmit-canh-bao-nguy-co-viet-nam-le-thuoc-fdi-nganh-dien-tu-post1606898.html