Chuyên gia trực tiếp chống lũ lịch sử năm 1971 hiến kế cho quy hoạch sông Hồng
Từ kinh nghiệm trực tiếp tham gia chống trận lũ lịch sử năm 1971, GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc đã hiến kế cho quy hoạch hai bờ sông Hồng.
Chiều 21/9, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội tổ chức tọa đàm “Sông Hồng - Biểu tượng phát triển mới của Thủ đô”, với sự tham gia của 7 chuyên gia, nhà khoa học và kiến trúc sư.
Một trong những nội dung trọng tâm được thảo luận là cách tổ chức lại không gian hai bờ sông Hồng khi Hà Nội chuyển từ tư duy đô thị “quay lưng ra sông” sang “quay mặt vào sông”.
Phó Giám đốc Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội Nguyễn Minh Đức cho biết, trong lịch sử hình thành và phát triển của Thăng Long - Hà Nội, sông Hồng đã bồi đắp nên nhiều vùng đất, xóm làng, bến bãi và không gian giao thương. Dòng sông cũng lưu giữ những lớp trầm tích văn hóa đặc biệt của Thủ đô.
Theo ông Đức, việc Hà Nội nghiên cứu điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5.000, không đơn thuần là điều chỉnh một đồ án quy hoạch. Đây còn là sự thay đổi trong cách nhìn nhận vị trí của dòng sông đối với cấu trúc phát triển của Hà Nội.

Các chuyên gia trao đổi tại tọa đàm. Ảnh: QT
Theo định hướng này, sông Hồng không còn chủ yếu được nhìn nhận như một ranh giới tự nhiên mà trở thành trục không gian trung tâm. Khu vực hai bờ sông sẽ được tổ chức thành không gian tích hợp giữa đô thị, sinh thái, văn hóa, lịch sử và đời sống cộng đồng.
Bài học từ không gian chứa nước tự nhiên
Góp ý về việc tổ chức lại không gian hai bờ sông Hồng, GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, nhắc lại kinh nghiệm từ thời điểm ông trực tiếp tham gia chống trận lũ lịch sử năm 1971.
Theo ông Ngọc, trong quá khứ, việc đô thị “quay lưng ra sông” là cách ứng xử tự nhiên để thích nghi với thiên tai. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, định hướng Hà Nội “quay mặt ra sông” là cách tiếp cận đúng đắn.
Ông dẫn chứng, trước đây, Hồ Tây, các bãi tự nhiên và đồng Dạ Trạch đóng vai trò như những bể chứa nước, giúp điều hòa và giảm áp lực dòng chảy. Các chi lưu thông thoáng cùng diện tích rừng đầu nguồn chưa bị xâm hại giúp sông Hồng có khả năng tự điều tiết khi xảy ra lũ lớn.
Từ kinh nghiệm này, ông Ngọc cho rằng quy hoạch hiện đại cần tiếp thu những bài học của cha ông, đồng thời ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ để giải quyết những bài toán quản lý dòng sông mà trước đây chưa thể xử lý.
Điều đó cũng đặt ra yêu cầu quá trình phát triển đô thị phải được tính toán thận trọng đối với các bãi sông, không gian chứa nước và hệ thống dòng chảy tự nhiên. Việc mở rộng không gian đô thị ven sông phải song hành với bảo đảm khả năng điều tiết nước và thích ứng với thiên tai.

GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (bên trái). Ảnh: QT
Nhìn lại lịch sử, ông Ngọc cho rằng từ kinh đô Văn Lang, Cổ Loa đến Thăng Long, cư dân đều lấy sông Hồng làm trung tâm của nhiều hoạt động. Con người vừa thích nghi với dòng sông, vừa sáng tạo nên những giá trị văn hóa và để lại hệ thống di sản đặc biệt tại khu vực này.
“Sông Hồng luôn là trung tâm và kết tinh nhiều giá trị văn hóa, lịch sử của Hà Nội. Vì thế, việc đưa sông Hồng trở thành động lực phát triển của đô thị Hà Nội là đúng đắn, có cơ sở và tôi tin chúng ta có thể làm được”, ông Ngọc khẳng định.
Tránh mất đi giá trị văn hóa truyền thống
Bên cạnh yêu cầu bảo đảm an toàn trước thiên tai, các chuyên gia cho rằng việc tổ chức không gian hai bờ sông Hồng cần tránh làm mất đi những giá trị văn hóa đã hình thành qua nhiều thế hệ.
TS. Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Văn hóa - Xã hội thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cho rằng mọi tác động vào sông Hồng cần giữ được sự hiền hòa và bảo đảm tính văn hóa. Những can thiệp thô bạo có thể gây tác động ngược đối với dòng sông. Tuy nhiên, bảo tồn cũng không có nghĩa là giữ nguyên mọi thứ và từ chối sự phát triển.
“Bảo tồn và phát triển văn hóa đòi hỏi chúng ta phải biết trân trọng, bảo tồn, nhưng đồng thời cũng phải biết phát huy giá trị trong những điều kiện mới”, ông Chức nêu quan điểm.
Với cách tiếp cận này, bản sắc văn hóa không chỉ là yếu tố cần được bảo vệ mà phải trở thành nguồn lực cho không gian đô thị mới. Những giá trị lịch sử, văn hóa gắn với sông Hồng cần được nhận diện, phát huy và đưa vào đời sống hiện tại, thay vì chỉ tồn tại như dấu tích của quá khứ.
Theo ông Chức, thước đo cuối cùng của quy hoạch không nằm ở quy mô công trình hay diện mạo của không gian ven sông mà ở chất lượng cuộc sống của người dân.
Mục tiêu cao nhất của phát triển văn hóa và quy hoạch dòng sông phải là phục vụ nhân dân. “Kỳ tích sông Hồng” chỉ được xác lập khi mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc và giúp cư dân hai bên bờ trực tiếp thụ hưởng những giá trị do quá trình phát triển tạo ra.

