Cụ Huỳnh Thúc Kháng, tấm gương sáng về người đứng đầu - Bài 2: Ba phép thử lớn trong 143 ngày giữ Quyền Chủ tịch nước
Trong 143 ngày giữ Quyền Chủ tịch nước năm 1946, cụ Huỳnh Thúc Kháng đứng mũi chịu sào trước ba phép thử lớn của chính quyền non trẻ: Pháp lấn chiếm Tây Nguyên, âm mưu đảo chính ở Hà Nội, Pháp đơn phương áp thuế quan. Ở mỗi phép thử, cụ để lại một nguyên tắc điều hành: Giữ chủ quyền, thượng tôn pháp luật, bàn bạc tập thể. Công báo năm ấy còn lưu 55 sắc lệnh đọc được chữ ký thay Chủ tịch nước của cụ.
"Mọi việc ở nhà đã có Cụ Huỳnh"
Ngày 31/5/1946, tại sân bay Gia Lâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Phái đoàn Việt Nam lên đường sang Pháp. Cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng các thành viên Chính phủ, đồng bào ra tiễn. Trên máy bay, khi các thành viên Phái đoàn còn lo cho tình hình trong nước, Người trả lời: “Các chú cứ yên tâm. Mọi việc ở nhà đã có cụ Huỳnh với chú Giáp”.
Lời giao phó ấy đã thành văn bản từ 2 ngày trước. Sắc lệnh số 82 ngày 29/5/1946, Điều 1 ghi: "Trong khi Chủ tịch Chính phủ đi vắng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng sẽ thay Chủ tịch ký những công văn thường hàng ngày và chủ toạ Hội đồng Chính phủ". Chính cụ Huỳnh, với tư cách Bộ trưởng Bộ Nội vụ, phó thự Sắc lệnh 82 (Công báo ngày 08/6/1946).

Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, thứ nhất từ phải sang) trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh tư liệu.
Niềm tin ấy có gốc rễ từ trước. Theo hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi mới từ Trung Bộ ra Hà Nội, điều cụ Huỳnh lo nhất là tình hình "đảng tranh". Cụ cho rằng các lực lượng yêu nước "giờ phải đặt quyền lợi quốc gia lên trên, phải đoàn kết lại". Mối lo ấy sẽ được thử thách đúng trong những tháng cụ giữ Quyền Chủ tịch.
Công hàm giữ Tây Nguyên
Phép thử đầu tiên tới sau 3 tuần. Sáng 21/6/1946, Tướng Valluy trao cho Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp một công hàm gửi Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Công hàm nêu rõ Cao uỷ Pháp đã ra lệnh chiếm đóng Tây Nguyên, viện cớ việc này Cao uỷ đã nói với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phía Pháp muốn mượn lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, lúc ấy đang ở xa, để hợp thức hoá cuộc lấn chiếm.
Cụ Huỳnh lập tức gửi công hàm bác bỏ, phản đối việc làm trái phép ấy. Công hàm viết: "Hồ Chủ tịch không bao giờ được người Pháp cho biết trước là người Pháp sẽ chiếm đóng miền Tây Nguyên và Chủ tịch cũng không hề bao giờ, bằng bất cứ cách nào, lại đồng ý cho một sự chiếm đóng như vậy". Cùng lúc, lực lượng vũ trang ở Tây Nguyên được lệnh kiên quyết đánh trả.
Trên mặt trận đối ngoại, ngày 7/7/1946, cụ ký thư giới thiệu đại diện Chính phủ ta với Chính phủ Thái Lan. Từ tháng 8/1946, cơ quan đại diện của Chính phủ ở Băng Cốc, gọi là Phái viên quán, được thành lập.
"Phải có bằng chứng mới được bắt người"
Phép thử thứ hai nguy hiểm hơn, vì nó nổ ra ngay giữa Thủ đô. Ngày 11/7/1946, Tổng Giám đốc Nha Công an Lê Giản báo cáo với Thường vụ Trung ương Đảng và Quyền Chủ tịch nước: Một số phần tử Quốc dân đảng, Đại Việt đang câu kết với Pháp, chuẩn bị gây bạo loạn đúng ngày 14/7, lấy cớ để lật đổ chính quyền. Công an đề nghị bắt ngay.
Nghe báo cáo, cụ Huỳnh chỉ thị, phải có bằng chứng cụ thể mới được bắt người, tránh để mang tiếng các đoàn thể chính trị xung đột nhau vì "đảng tranh". Rạng sáng 12/7, công an, tự vệ khám xét các trụ sở ở phố Nguyễn Du, số 132 Minh Khai, số 7 Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều), thu vũ khí, máy in, giấy bạc giả, truyền đơn, kế hoạch bạo loạn, giải thoát nhiều người bị bắt giữ để tống tiền, phát hiện nhiều hố chôn xác nạn nhân.
Bằng chứng đã rõ, cụ Huỳnh cùng các thành viên Chính phủ tới xem tận nơi căn nhà số 7 Ôn Như Hầu. Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ghi lại: Vài ngày sau, mấy người của Quốc dân đảng kéo tới Bắc Bộ phủ xin gặp Quyền Chủ tịch để thanh minh. Cụ hỏi: "Chúng nó đâu?", rồi chống ba toong ra tận cầu thang, chỉ gậy quát: "Đồ kẻ cướp! Đồ vô lại! Quốc gia dân tộc gì chúng mày!".
Ngày 16/7/1946, trong cuộc họp với các nhà báo, cụ nhân danh Quyền Chủ tịch Chính phủ tuyên bố: "Đoàn kết là cần… để xây dựng nền dân chủ cộng hòa, nhưng không thể vin vào 'đoàn kết' mà làm những điều phi pháp". Cụ nói tiếp: "Những đảng viên Việt Nam quốc dân đảng chân chính, được bảo đảm sự tự do hoạt động trong vòng pháp luật. Pháp luật là pháp luật chung".
Những lời ấy gói trọn cách cụ Huỳnh cầm quyền: Chưa có bằng chứng thì không bắt, có bằng chứng thì xử nghiêm, người ngay thì được pháp luật bảo vệ. Kỷ cương đặt trên pháp luật chứ không đặt trên cảm tình đảng phái.
Chữ ký dưới 55 sắc lệnh
Ba ngày sau cuộc họp báo, ngày 19/7/1946, Công báo ghi 6 sắc lệnh cùng đề ngày, nhiều nhất trong cả thời gian cụ giữ Quyền Chủ tịch nước. Năm bản còn đọc được dòng chữ "Thay mặt Chủ tịch Chính phủ: Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Huỳnh Thúc Kháng". Giữa lúc tình hình Thủ đô căng thẳng, công việc điều hành thường nhật của Chính phủ vẫn được duy trì.

Bản Sắc lệnh ấn định Quốc kỳ nước Việt Nam, thuộc Tập Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời 1945 tới 1946, Bảo vật quốc gia. Nguồn: Báo điện tử Chính phủ (baochinhphu.vn).
Khảo sát Việt Nam Dân quốc Công báo năm 1946 cho thấy 87 sắc lệnh đề ngày từ 4/6 tới 15/10, bình quân 1,64 ngày một sắc lệnh. 55 bản đọc được dòng ký đều mang chữ ký thay Chủ tịch của cụ Huỳnh. Một phần ba thuộc tài chính, thuế, tiền tệ, thương mại; kế đến là tư pháp, chế độ lương, phụ cấp công chức.

Cơ cấu 87 sắc lệnh đề ngày 4/6 tới 15/10/1946 theo lĩnh vực. Nguồn: Việt Nam Dân quốc Công báo năm 1946, 47 số. Mỗi sắc lệnh xếp vào một lĩnh vực theo trích yếu.
Dấu ấn riêng của cụ đọc được ngay trong danh mục. Người vừa tuyên bố "pháp luật là pháp luật chung" ký thay Chủ tịch hàng loạt sắc lệnh về tư pháp như: Bổ khuyết việc tổ chức toà án (số 111), tổ chức tư pháp công an (số 131), lập toà án binh lâm thời ở Hà Nội (số 163), định thẩm quyền truy tố của toà án (số 190).
Người khởi xướng phong trào Duy Tân với tôn chỉ "khai dân trí" ký các sắc lệnh tổ chức Bộ Quốc gia Giáo dục (số 119 ngày 9/7), định nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới cùng tổ chức bậc học cơ bản (số 146, 147 ngày 10/8), lập ngành học sư phạm (số 194), mở ban Pháp lý học tại Trường Đại học (số 197). Người từng dùng báo Tiếng Dân bênh vực quyền lợi chính đáng của Nhân dân ký Sắc lệnh 133 ngày 23/7 đặt phụ cấp bổ túc vì gạo đắt cùng mức lương tối thiểu cho công chức.

Số sắc lệnh theo tháng ký, từ 4/6 tới 15/10/1946. Nguồn: Việt Nam Dân quốc Công báo năm 1946. Ba sắc lệnh chỉ đọc được tháng ký, không đọc được ngày, được tính theo tháng.
Hai tháng 7 và 8 chiếm 52 trên 87 sắc lệnh, đúng vào lúc Thủ đô vừa dẹp xong vụ Ôn Như Hầu, chuẩn bị kỷ niệm một năm Cách mạng tháng Tám.
Chủ toạ Hội đồng Chính phủ, hỏi ý Quốc hội
Sắc lệnh 82 trao cho cụ hai việc: Ký thay công văn thường ngày và chủ toạ Hội đồng Chính phủ. Cụ dùng việc thứ hai làm bảo đảm cho việc thứ nhất. Trong 55 bản đọc được dòng ký, 53 bản còn đọc trọn đoạn mở trước hai chữ "RA SẮC LỆNH". 42 đoạn nhắc tới Hội đồng Chính phủ, 31 đoạn ghi rõ "Hội đồng Chính phủ đã thoả hiệp", 20 đoạn ghi đã hỏi ý kiến hoặc đã được ban Thường trực Quốc hội thoả hiệp. Người giữ quyền nguyên thủ không tự mình quyết thay tập thể.

Trưng bày Bảo vật quốc gia Tập Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà 1945 tới 1946. Nguồn: Báo điện tử Chính phủ (baochinhphu.vn).
Cụ Huỳnh còn mang một vai kép hiếm có là Bộ trưởng Bộ Nội vụ, cụ đề nghị sắc lệnh là Quyền Chủ tịch nước, cụ chủ toạ phiên họp bàn sắc lệnh ấy rồi ký thay Chủ tịch nước. Trong 39 đoạn ghi rõ bộ đề nghị, Bộ Nội vụ đứng thứ hai, chỉ sau Bộ Tài chính.

Bộ đề nghị trong 39 sắc lệnh ghi rõ nơi đề nghị. Nguồn: đoạn mở của 53 sắc lệnh đọc được dòng ký thay Chủ tịch, Việt Nam Dân quốc Công báo năm 1946. Một sắc lệnh có thể do nhiều bộ cùng đề nghị.
Sắc lệnh 141-B ngày 26/7/1946 cho thấy rõ nhất vai kép ấy. Sắc lệnh lấy ngày 19/8, "ngày kỷ niệm Cách mạng tháng Tám năm 1945, từ nay sẽ là ngày Quốc khánh Việt Nam". Dưới sắc lệnh có hai chữ ký của cùng một người: Chữ ký thay mặt Chủ tịch Chính phủ và chữ ký phó thự của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng (Công báo ngày 24/8/1946). Sắc lệnh số 175-b ngày 6/9/1946 đặt ra "thẻ công dân" cho mọi người Việt Nam "đàn ông hay đàn bà tuổi từ 18 trở lên", lệ phí 0đ50 (Công báo ngày 12/10/1946).
Giữ hàng hoá, giữ quyền thuế quan
Phép thử thứ ba chạm thẳng vào nền kinh tế. Theo hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ngày 14/10/1946, một tháng sau khi bản Tạm ước được ký, nhà cầm quyền Pháp ở Sài Gòn ra thông tri nhắc lại quyết định ngày 10/9 của Cao uỷ Pháp về thuế quan, có hiệu lực từ ngày 15/10.
Bất chấp Tạm ước, phía Pháp đơn phương buộc nhiều thứ hàng của ta như than, quặng, xi măng, kim khí, gỗ, ngũ cốc, muối, giấy muốn xuất cảng phải được Pháp cho phép. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa về, cụ Huỳnh nhân danh Quyền Chủ tịch nước gửi cho Pháp "một lời kháng nghị kịch liệt".
Kháng nghị ấy đi cùng những sắc lệnh giữ của cải quốc gia do Chính phủ ban hành trong những tháng cụ giữ Quyền Chủ tịch nước. Sắc lệnh 160 ngày 21/8/1946 cấm xuất cảng máy móc, đồ kim khí, xe hơi. Sắc lệnh 103 ngày 11/6 cho phát hành tiền 2 đồng; Sắc lệnh 154 tháng 8 cho phát hành giấy bạc Việt Nam ở bắc Trung Bộ.
Bốn sắc lệnh cùng đề ngày 26/8, số 164 tới 167, cho phát hành tem thư phụ thu, phần thu góp vào quỹ quốc phòng. Quyền quyết định hàng hoá nào được ra khỏi biên giới là một phần của chủ quyền; cụ Huỳnh đã giữ phần chủ quyền ấy bằng cả lời kháng nghị lẫn những sắc lệnh của Chính phủ.
Từ lễ đài Bờ Hồ đến sân ga Hàng Cỏ
Sáng 2/9/1946, kỷ niệm một năm ngày Độc lập, cụ Huỳnh Thúc Kháng đứng trên lễ đài ở vườn hoa Chí Linh bên hồ Hoàn Kiếm, thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các bộ trưởng trong Chính phủ do toàn dân bầu ra. Năm trước, Chính phủ lâm thời ra mắt chưa có khách nước ngoài nào; năm ấy, đại biểu Anh, Mỹ, Trung Quốc, Pháp đến dự.
Chiều 21/10/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh về tới ga Hàng Cỏ. Cụ Huỳnh dẫn đầu đoàn đại biểu Quốc hội, Chính phủ, các đoàn thể ra đón Người. Lời giao phó ở sân bay Gia Lâm 143 ngày trước đã được đáp lại trọn vẹn.
Nhóm thực hiện khảo sát 47 số Việt Nam Dân quốc Công báo năm 1946, lập danh mục mọi sắc lệnh đề ngày từ 4/6 tới 15/10/1946, số hiệu nằm trong dãy từ 92 tới 202. 64 sắc lệnh được nhận diện qua phần đầu văn bản in trong Công báo, 22 sắc lệnh chỉ thấy trên mục lục các số Công báo, Sắc lệnh 189 xác định qua bản trích lục Công báo đối chiếu cơ sở dữ liệu văn bản của Chính phủ.
Để xác nhận người ký, một sắc lệnh chỉ được tính là có chữ ký thay Chủ tịch nước của cụ Huỳnh Thúc Kháng khi phần cuối văn bản đọc được dòng ghi nơi ký, ngày ký trùng ngày đề của sắc lệnh, kèm dòng "Thay mặt Chủ tịch Chính phủ". 55 sắc lệnh đạt quy tắc này; 9 bản quét mất dòng ký; trong khung ngày khảo sát không bản nào mang chữ ký khác. Đối chứng ngoài khung cho thấy, các sắc lệnh đề ngày 29 và 30/5/1946 còn đọc được dòng ký cùng các Sắc lệnh 204, 206, 207, 210 đề ngày 8 tới 16/11/1946 mang chữ ký Hồ Chí Minh.
Bài học về người cầm quyền vì dân
Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng của Ban Tuyên giáo Trung ương nhận định, trong điều hành công việc, cụ "luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên những khác biệt về chính kiến". 143 ngày năm 1946 cho thấy nhận định ấy bằng việc làm cụ thể.
Với Tây Nguyên, cụ giữ chủ quyền bằng công hàm. Với vụ Ôn Như Hầu, cụ giữ kỷ cương bằng pháp luật, không bằng cảm tình đảng phái. Với thuế quan, cụ giữ quyền tự quyết về hàng hoá. Với bộ máy, cụ giữ nếp bàn bạc tập thể, việc lớn hỏi ý Quốc hội.
Đề cương yêu cầu học tập tấm gương cụ gắn với việc "lấy sự hài lòng và lợi ích của Nhân dân làm thước đo hiệu quả công việc", với tinh thần "dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung".
Tài liệu tham khảoA. Văn kiện, văn bản1. Ban Tuyên giáo Trung ương, Hướng dẫn số 06-HD/BTGTW ngày 08/9/2026 về tuyên truyền kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng, kèm Đề cương tuyên truyền, trang 7, 10, 11.B. Công báo2. Việt Nam Dân quốc Công báo năm 1946, 47 số, trong đó các số ngày 08/6/1946 (Sắc lệnh số 82), 22/6/1946 (Sắc lệnh số 103), 29/6/1946 (Sắc lệnh số 105), 13/7/1946 (Sắc lệnh số 117), 06/7/1946 (Sắc lệnh số 111), 20/7/1946 (Sắc lệnh số 119), 27/7/1946 (Sắc lệnh số 124, 133), 03/8/1946 (Sắc lệnh số 128 tới 132), 24/8/1946 (Sắc lệnh số 141-B, 146, 147), 31/8/1946 (Sắc lệnh số 160), 07/9/1946 (Sắc lệnh số 162 tới 167, 170), 14/9/1946 (Sắc lệnh số 154, 173), 21/9/1946 (Sắc lệnh số 176), 05/10/1946 (Sắc lệnh số 182), 12/10/1946 (Sắc lệnh số 175-b), 19/10/1946 (Sắc lệnh số 190, 194), 26/10/1946 (Sắc lệnh số 197, 202).3. Danh mục 87 sắc lệnh đề ngày 4/6 tới 15/10/1946 kèm trạng thái chữ ký, lĩnh vực, số Công báo, lưu tại kho dữ liệu loạt bài.C. Sách4. Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, hồi ký, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2006.5. Trần Trọng Trung, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2006, mục "Đã có cụ Huỳnh, chú Giáp".6. Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2005.
