Cùng gồng gánh trả nợ mua chung cư, vợ lo ngay ngáy vì nhà chỉ đứng tên chồng

Cùng chồng trả nợ mua nhà, thậm chí bán cả vàng cưới để xoay xở tài chính, một người vợ trẻ vẫn chưa có tên trên giấy chứng nhận căn hộ...

Một mái nhà sau hôn nhân không chỉ được vun đắp bằng tình cảm mà còn bằng những khoản tiền hai vợ chồng cùng chắt chiu, lo liệu. Thế nhưng, khi giấy tờ sở hữu chỉ ghi tên một người, những đóng góp của người còn lại đôi khi trở thành nỗi băn khoăn, nhất là khi tài sản được hình thành từ trước ngày cưới nhưng nghĩa vụ trả nợ vẫn tiếp tục sau đó.

CÙNG CHỒNG TRẢ NỢ MUA NHÀ NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC CÙNG ĐỨNG TÊN

Câu chuyện của một người vợ trẻ bắt đầu từ căn hộ do bố mẹ chồng làm thủ tục tặng cho riêng con trai. Dù cùng chồng trả khoản vay mua nhà, thậm chí phải bán cả vàng cưới và tiền mừng cưới để xoay xở, cô vẫn chưa có tên trên giấy chứng nhận sở hữu.

“Vợ chồng em hiện đang ở một căn chung cư được mua trước thời điểm kết hôn. Thời điểm mua nhà, bố mẹ chồng là người đứng tên. Ông bà nội có hỗ trợ khoảng 1/3 giá trị căn hộ, 2/3 còn lại là tiền ông bà và chị chồng cho chồng em vay. Sau khi kết hôn thì hai vợ chồng cùng có trách nhiệm trả khoản tiền này.

Sau đó, căn hộ được bố mẹ chồng làm thủ tục tặng cho riêng con trai (chồng em), nên hiện trên giấy tờ căn hộ đang đứng tên chồng và được xác định là tài sản được tặng cho riêng.

Tuy nhiên, thực tế sau khi kết hôn, em vẫn cùng chồng trả khoản tiền vay mua nhà và có đóng góp tài chính vào căn hộ. Thời điểm này (vừa mới cưới xong), chị chồng gọi chồng em đòi tiền dồn dập, em còn phải bán cả vàng cưới lẫn tiền mừng cưới của em để trả cùng.

Cho em hỏi mọi người có kinh nghiệm hoặc hiểu biết về pháp lý cho em xin ý kiến:

Trong trường hợp này có cách nào để làm thủ tục chuyển từ tài sản đứng tên riêng chồng sang tài sản chung, để giấy chứng nhận quyền sở hữu căn hộ đứng tên cả hai vợ chồng không ạ?

Nếu có thì thủ tục phù hợp là chồng tặng cho một phần tài sản cho vợ hay có hình thức nào khác để chuyển thành tài sản chung vợ chồng?

Em cũng muốn hỏi thêm trường hợp này có cần chứng minh việc em đã cùng trả khoản tiền vay mua nhà hay không? Và việc đó có ảnh hưởng đến thủ tục sang tên không?

Rất mong anh/chị nào đã từng làm thủ tục tương tự hoặc am hiểu về luật đất đai, hôn nhân gia đình tư vấn giúp em với ạ. Em cảm ơn mọi người nhiều”.

Từ một hoàn cảnh tương tự, một người phụ nữ chia sẻ trải nghiệm gia đình mình từng giải quyết khoản nợ phát sinh trước hôn nhân rồi làm thủ tục chuyển tên tài sản.

“Nhà mình cũng na ná nhà bạn, không trả nợ nhà nhưng trả nợ cái khác trước cưới. Cũng chẳng nói rõ được đó là tiền của ai nhưng của chồng công vợ, tiền chồng mình kiếm vợ quản lý. Không có vợ thì chồng mình cũng vẫn nợ cũng không kiếm được tiền nên chồng mình mặc định đó là tiền của vợ, sau mới sang tên cho mình.

Thủ tục chồng mình tự đi làm hết. Mình chỉ đi một hôm ra văn phòng công chứng để ký tá và chụp ảnh với công chứng viên thôi. Đặt lịch đi đi lại lại và ra công an xin giấy tầm 1 tuần là xong, hình như 2 tuần là có sổ mới”.

Với trường hợp căn hộ đã được xác định là tài sản riêng của chồng, sự đồng thuận giữa hai người được xem là yếu tố quan trọng khi lựa chọn cách chuyển quyền sở hữu.

“Chồng em có đồng ý sang tên cho em không? Nếu có thì ra phòng công chứng làm thỏa thuận tài sản hoặc cho tặng một phần rồi ra văn phòng đăng ký là xong, không phải chứng minh gì cả. Nếu chồng em không muốn thì em phải chứng minh đóng góp khi ly hôn chia tài sản”.

Bên cạnh phương án trao đổi trực tiếp với chồng, một ý kiến khác khuyên người vợ nên chủ động hệ thống lại các giấy tờ liên quan đến khoản tiền đã cùng trả nợ.

“Chị chụp, lưu lại hết bằng chứng về việc chị đã cùng chồng góp tiền để trả nợ tiền mua nhà, tin nhắn chồng chị bảo bố mẹ chồng đứng hộ tên nhà trước nhé.

Sau đấy mới trao đổi mềm nhẹ với chồng về việc hai vợ chồng cùng đứng tên trên sổ nhé (nhớ ghi âm lại) nhỡ đâu chồng chị không đồng ý hai vợ chồng cùng đứng tên, sau lại lật mặt thì mình còn có căn cứ. Còn nếu anh ấy đồng ý thì dắt nhau ra phòng công chứng làm thủ tục thôi.

Về bản chất nếu chị chứng minh được mình có đóng góp tài chính để hình thành nên căn nhà đó trong thời kỳ hôn nhân, bố mẹ chồng chỉ đứng tên hộ thì chị vẫn được một nửa căn nhà nhé”.

Ở góc nhìn thận trọng hơn, một thành viên cho rằng quyền đối với căn nhà và cách xác định khoản tiền đã đóng góp vẫn cần được xem xét dựa trên hồ sơ, nguồn tiền và các quy định pháp luật có liên quan.

“Quan trọng là chồng có đồng ý hay không thôi. Nếu có thì ra phòng đăng ký đất đai làm cái rẹt. Nếu không thì bạn nên thu thập, lưu giữ những bằng chứng chuyển tiền trả nợ nhà, tốt nhất đem đi công chứng lưu lại để sau này có ly hôn thì đòi lại khoản tiền này. Tiền này được tính theo giá trị căn nhà giá thị trường. Cái này nhà chồng hơi cao tay. Và tiền dùng để trả nợ này có phải là tài sản chung hay không thì cũng chưa biết nữa”.

Theo các ý kiến đóng góp, chỉ cần người chồng đồng ý thì thủ tục để vợ cùng đứng tên căn nhà rất đơn giản

Theo các ý kiến đóng góp, chỉ cần người chồng đồng ý thì thủ tục để vợ cùng đứng tên căn nhà rất đơn giản

QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT HỘ GIA ĐÌNH VÀ TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG

Pháp luật về hôn nhân và gia đình quy định tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, trong đó có quyền sử dụng đất, về nguyên tắc được xác định là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc được hình thành từ tài sản riêng.

Do đó, việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thường gọi sổ đỏ) chỉ ghi tên người vợ hoặc người chồng không đương nhiên xác định đây là tài sản riêng của người đứng tên.

Trong trường hợp một bên cho rằng quyền sử dụng đất là tài sản riêng thì phải có căn cứ và tài liệu chứng minh rõ nguồn gốc tài sản, chẳng hạn như giấy tờ thể hiện việc được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc hình thành từ tài sản riêng.

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2024, nếu giấy chứng nhận trước đây chỉ ghi tên vợ hoặc chồng thì người dân có quyền yêu cầu cấp đổi để ghi đầy đủ tên của cả hai vợ chồng trên giấy chứng nhận.

Liên quan đến việc xác định thành viên hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất, Luật Đất đai năm 2024 giao cho các thành viên trong hộ gia đình tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc xác định những người có chung quyền sử dụng đất để ghi trên giấy chứng nhận.

Pháp luật hiện hành không quy định bắt buộc văn bản thỏa thuận này phải được công chứng hoặc chứng thực. Tuy nhiên, trong trường hợp người dân có nhu cầu, tổ chức hành nghề công chứng hoặc cơ quan có thẩm quyền có thể thực hiện chứng thực chữ ký trên văn bản.

Việc chứng thực chữ ký chỉ xác nhận chữ ký là của người yêu cầu chứng thực. Cơ quan chứng thực không chịu trách nhiệm về nội dung văn bản, người ký phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về những thông tin, cam kết đã ghi trong văn bản đó.

Khi xem xét các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình, công chứng viên cần căn cứ đồng thời vào Luật Đất đai năm 2024, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hộ tịch và các quy định pháp luật có liên quan để xác định đúng chủ thể có quyền đối với thửa đất.

Đối với trường hợp thành viên hộ gia đình đã kết hôn nhưng vợ hoặc chồng không phải là thành viên của hộ gia đình sử dụng đất, Bộ Tư pháp cho biết cần phân biệt giữa quyền sử dụng đất của hộ gia đình với chế độ tài sản chung của vợ chồng.

Luật Đất đai năm 2024 quy định hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, cùng sinh sống và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất.

Như vậy, quyền sử dụng đất của hộ gia đình được xác lập dựa trên điều kiện và thời điểm cụ thể theo quy định của pháp luật đất đai. Việc một thành viên sau đó kết hôn không làm phát sinh đương nhiên quyền sử dụng đất của người vợ hoặc người chồng đối với phần quyền sử dụng đất đã được xác lập trước đó.

Tuy nhiên, dưới góc độ pháp luật hôn nhân và gia đình, phần quyền sử dụng đất mà thành viên hộ gia đình được hưởng có thể trở thành tài sản chung của vợ chồng nếu thuộc trường hợp pháp luật quy định là tài sản chung.

Do đó, khi thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cần xem xét đồng thời cả quy định của Luật Đất đai và Luật Hôn nhân và gia đình để xác định chính xác chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan.

Hạ Vy

Nguồn Thương Gia: https://thuonggiaonline.vn/cung-gong-ganh-tra-no-mua-chung-cu-vo-lo-ngay-ngay-vi-nha-chi-dung-ten-chong-post573851.html