Đà Nẵng: Điều chỉnh quy định tầng cao xây dựng nhà ở riêng lẻ đô thị
UBND TP Đà Nẵng đã ban hành quy định mới về tầng cao, chiều cao xây dựng và hệ số sử dụng đất tối đa cho phép đối với nhà ở riêng lẻ đô thị ở khu trung tâm và khu vực lân cận TP Đà Nẵng.
Theo đề nghị của Sở Xây dựng, UBND TP Đà Nẵng đã có Quyết định 07/2026/QĐ-UBND sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 63/2023/QĐ-UBND của UBND TP Đà Nẵng (cũ) về ban hành quy chế quản lý kiến trúc TP Đà Nẵng thành “ban hành quy chế quản lý kiến trúc khu trung tâm và khu vực lân cận TP Đà Nẵng (Quyết định 07). Quyết định này có hiệu lực từ ngày 25/1/2026.

UBND TP Đà Nẵng đã ban hành quy định mới về tầng cao xây dựng nhà ở riêng lẻ đô thị tại khu trung tâm và khu vực lân cận TP Đà Nẵng.
Khu vực trung tâm và lân cận thuộc TP Đà Nẵng gồm toàn bộ địa giới hành chính các phường: Hải Châu, Hòa Cường, Thanh Khê, An Khê, An Hải, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Hòa Khánh, Hải Vân, Liên Chiểu, Cẩm Lệ, Hòa Xuân và các xã Hòa Vang, Hòa Tiến, Bà Nà.
Tại Quyết định 07, UBND TP Đà Nẵng ban hành quy định mới về tầng cao, chiều cao xây dựng và hệ số sử dụng đất tối đa cho phép đối với nhà ở riêng lẻ đô thị, bao gồm nhà ở liền kề, nhà ở giáp đường phố cũ, chỉnh trang, nhà ở nhiều tầng nhiều căn hộ có quy mô dưới 20 căn hộ để cho thuê.
Đối với đường có vỉa hè với mặt cắt lòng đường < 5,5m được xây dựng tối đa 6 tầng; đối với đường có mặt cắt lòng đường hiện trạng nhỏ hơn 7,5m được xây dựng tối đa 77 tầng. Đường có mặt cắt lòng đường từ 7,5m đến < 10,5m được xây dựng tối đa 9 tầng. Với các tuyến đường đã được phê duyệt chủ trương đầu tư, mặt cắt lòng đường theo quy mô đầu tư xây dựng được phê duyệt được xem là mặt cắt lòng đường hiện trạng để áp dụng quy chế này. Hệ số sử dụng đất theo quy chế mới là ≤ 7 lần.
Trường hợp công trình được xây dựng trên lô đất có hình dạng không vuông vức, phần diện tích có chiều rộng hoặc chiều sâu nhỏ hơn 3m chỉ được phép xây dựng tối đa 12m. Các phần còn lại của công trình có cạnh nhỏ nhất ≥ 3m thì có thể tiếp tục xây dựng cao hơn bảo đảm phù hợp với quy định còn lại tại quyết định này, với điều kiện bảo đảm kết nối khối công trình hợp lý, không gây mất an toàn kết cấu và bảo đảm cảnh quan.
Đối với kiệt có lộ giới < 2,5m, công trình được phép xây dựng tối đa 3 tầng với tổng chiều cao không quá 13m; đối với những kiệt có lộ giới ≥ 2,5m đến <7m, công trình được phép xây dựng tối đa 4 tầng với tổng chiều cao không quá 16,5m. Những kiệt có lộ giới ≥ 7m, công trình được phép xây dựng tối đa 5 tầng, riêng tầng 5 phải có khoảng lùi tối thiểu 3m so với chỉ giới đường đỏ, tổng chiều cao không quá 20m.
Không được phép đầu tư xây dựng các dự án công trình công cộng cấp phường, cấp đô thị, các công trình thương mại dịch vụ tập trung, quy mô lớn như siêu thị, nhà hàng có diện tích kinh doanh ≥ 500m2, dịch vụ karaoke và các công trình tương tự (có nhu cầu về bãi đỗ xe lớn và có nguy cơ cháy, nổ) trong kiệt hẻm.
Các công trình hạ tầng xã hội thuộc nhóm nhà ở như nhà trẻ, nhà sinh hoạt cộng đồng, sân chơi, vườn hoa và các hoạt động thương mại – dịch vụ - kinh doanh quy mô hộ gia đình bảo đảm các điều kiện kinh doanh theo quy định pháp luật thì vẫn được phép xây dựng trong các kiệt hẻm, có số tầng cao xây dựng, chiều cao xây dựng tối đa tương tự như đối với nhà ở riêng lẻ nêu trên.
Đối với biệt thự nằm trong khu vực dân cư chỉnh trang, xây dựng không quá 4 tầng nổi (kể cả tầng lửng, tầng áp mái, tầng kỹ thuật); mặt tiền giáp đường phải có khoảng lùi tối thiểu 4m so với chỉ giới đường đỏ. Trường hợp chiều ngang mặt tiền ≥ 15m, khoảng lùi xây dựng công trình tối thiểu 1,5m so với hai cạnh bên thửa đất. Trường hợp chiều sâu thửa đất ≥ 25m, khoảng lùi xây dựng công trình tối thiểu 1,5m so với cạnh phía sau thửa đất. Mật độ cây xanh tối thiểu 20%.












