Đại hội VI và quyết sách mở đường cho Đổi mới
Thế hệ trẻ ngày nay ít người biết rằng, quyết định lịch sử khởi xướng công cuộc Đổi mới tại Đại hội VI của Đảng là kết quả của những trăn trở sâu sắc, kéo dài ngay trong đội ngũ cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà nước. Thậm chí, Báo cáo Chính trị trình Đại hội VI đã được soạn thảo lại, thể hiện nhiều tư duy đổi mới mà đến nay chúng ta mới thấy hết giá trị.
Trong cuốn sách “Tư duy kinh tế Việt Nam 1975 - 1989”, Giáo sư Đặng Phong (1939 - 2010) đã ghi lại: “Những hậu quả của cuộc khủng hoảng do cuộc tổng điều chỉnh giá - lương - tiền năm 1985 đã tích tụ và dồn nén năm, sáu tháng, chuyển động âm ỉ rồi bùng nổ. Tất cả các lĩnh vực kinh tế đều lâm vào tình trạng khủng hoảng, nhất là khâu phân phối lưu thông, giá, lương, tiền đều không đạt được những mục đích mà Hội nghị Trung ương 8 đề ra hồi tháng 6-1985”… Niên giám thống kê 1988 nêu: “Sản xuất nông nghiệp có biểu hiện đi xuống. Sản xuất lương thực bình quân đầu người từ 304kg năm 1985 giảm xuống 301kg năm 1986. Lượng thịt cung cấp do thương nghiệp bán ra theo đầu người giảm từ 2,5kg/năm xuống 2kg/năm. Trong công nghiệp, số vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản từ 24 tỷ năm 1985 giảm xuống còn 20 tỷ đồng năm 1986. Đặc biệt, chỉ số giá bán lẻ của thị trường xã hội năm 1986 tăng 587,2% so với năm 1985”.
Trước những biến động rất mạnh nêu trên, trong suy nghĩ của nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước dần hình thành một cách nhìn rõ ràng hơn rằng không thể tiếp tục áp dụng mãi mô hình kinh tế kế hoạch cũ. Muốn vậy, cần có những nghiên cứu bài bản, đa chiều nhằm tư vấn cho lãnh đạo cấp cao. Vì vậy, trong giai đoạn này, ở Trung ương đã hình thành một số bộ phận nghiên cứu quan trọng, tiêu biểu như: Tiểu ban cơ chế mới (do Bộ Chính trị thành lập tháng 12-1985); Nhóm nghiên cứu sản xuất hàng hóa và quy luật giá trị (do Hội đồng Bộ trưởng thành lập tháng 3-1986); Tiểu ban nghiên cứu giải pháp cấp bách về tài chính - tiền tệ - giá cả (do Bộ Chính trị thành lập tháng 6-1986)… Riêng Tiểu ban nghiên cứu giải pháp cấp bách về tài chính - tiền tệ - giá cả do trực tiếp các đồng chí trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư như Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười, Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Lam tham gia điều hành. Tiểu ban được tổ chức thành nhiều tổ nghiên cứu theo từng chuyên đề, với Thường trực tiểu ban là Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Trân.
Giáo sư Đặng Phong chia sẻ thêm: “Tình hình kinh tế phức tạp đặt trước tư duy kinh tế những câu hỏi nóng bỏng, cấp bách, nhưng rất hóc búa: Những khủng hoảng kinh tế - xã hội là do sai lầm của việc thi hành cải cách hay do bản thân cải cách? Nếu do bản thân cải cách thì nên chăng phải trở lại với mô hình kinh tế cũ để đảm bảo sự ổn định của sản xuất và đời sống? Nếu do sai lầm của việc thực hiện cải cách thì sẽ phải đi tiếp bằng cách nào, sửa ở đâu?...”.
Sau khi Tổng Bí thư Lê Duẩn qua đời 4 ngày, ngày 14-7-1986, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư. Trên cương vị đó, đồng chí Trường Chinh đã bắt tay vào việc chuẩn bị những tư tưởng lớn cho Đại hội Đảng lần thứ VI, với trọng tâm là đưa những “luồng gió” Đổi mới vào Báo cáo Chính trị trình Đại hội.
Trước đó, công việc biên soạn Báo cáo Chính trị được giao cho một nhóm do đồng chí Tố Hữu chủ trì. Khi đảm nhiệm cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Trường Chinh quyết định thành lập một ê kíp mới, do Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Hoàng Tùng trực tiếp phụ trách. Trong “Báo cáo tóm tắt tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới” trình Hội nghị Trung ương 9 (khóa IX), đồng chí Hoàng Tùng kể lại: “Ngoài tôi ra, có các anh Đào Duy Tùng, Phạm Như Cương, Hà Nghiệp, Trần Đức Nguyên, Lê Văn Viện… Viết về phần kinh tế thì hai người có công lao rất lớn là anh Hà Nghiệp và anh Trần Đức Nguyên. Mỗi phần của báo cáo được phân công cho một nhóm biên soạn, anh Trường Chinh trực tiếp đọc và sửa. Tôi còn nhớ, có một số ý tưởng rất quan trọng trong văn bản Báo cáo là do anh trực tiếp viết vào. Thí dụ như câu đánh giá về những sai lầm thì chính anh Trường Chinh trực tiếp ghi: “Đó là sai lầm tả khuynh duy ý chí, làm trái quy luật khách quan…” Câu văn đó là của anh Trường Chinh trực tiếp viết vào bản thảo”.
Để hình thành Báo cáo Chính trị với nhiều nội dung đổi mới, theo Giáo sư Đặng Phong, “đã xuất hiện một số bộ óc được coi là mở đường đi cho lịch sử, trong đó đặc biệt phải kể đến vai trò của Ủy viên Bộ Chính trị Trường Chinh”. Trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Trường Chinh đã dành nhiều thời gian đi sâu thâm nhập cơ sở, nắm bắt đúng thực tiễn, đồng thời hoàn thiện tư duy của mình thông qua làm việc với một tập thể các chuyên gia, những nhà nghiên cứu có nhiều ý tưởng đổi mới. Tuy nhiên, trong quá trình đó, không phải lúc nào các đề xuất mới cũng ngay lập tức nhận được sự đồng thuận.
Trên cơ sở những đề xuất khoa học mới, Tổng Bí thư Trường Chinh từng bước định hình các quan điểm chủ yếu để trình Đại hội VI. Sau cuộc họp Bộ Chính trị từ ngày 25-8 đến 1-9-1986 bàn về các quan điểm kinh tế, Bộ Chính trị đã thống nhất kết luận “ba quan điểm kinh tế cơ bản” trong tình hình mới, gồm: Trong bố trí cơ cấu kinh tế, lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu; trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xác định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng của thời kỳ quá độ; đồng thời, trong khi lấy kế hoạch làm trung tâm, phải sử dụng đúng đắn các quan hệ hàng hóa - tiền tệ. Từ sự thống nhất này, Tổng Bí thư Trường Chinh cùng nhóm nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện Báo cáo Chính trị, trình Bộ Chính trị tại cuộc họp ngày 20-9-1986 và đưa ra thảo luận tại Hội nghị Trung ương 11 (khóa V) vào tháng 11-1986.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI chính thức khai mạc ngày 15-12-1986. Báo cáo Chính trị do Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày là kết tinh trí tuệ tập thể, phản ánh toàn diện những quan điểm cơ bản của công cuộc Đổi mới. Những tư tưởng mới của Đại hội đã được toàn Đảng, toàn dân đón nhận như một luồng sinh khí mới, tạo động lực cho sự nghiệp Đổi mới.
40 năm nhìn lại, có thể khẳng định Đại hội VI là một bước ngoặt lớn trong tư duy phát triển, phá vỡ những rào cản, định kiến kéo dài về kinh tế - xã hội, đồng thời mở đường cho đổi mới tư duy xây dựng Đảng cầm quyền và hội nhập quốc tế… Từ quyết sách lịch sử ấy, công cuộc Đổi mới từng bước đưa đất nước vượt qua khủng hoảng kéo dài, khơi thông các nguồn lực xã hội, giải phóng sức sản xuất và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững. Việt Nam từ một nền kinh tế khép kín, kém phát triển đã vươn lên trở thành nền kinh tế có độ mở cao, hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực và thế giới… Để rồi, “với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” như Đảng ta đã khẳng định.
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/dai-hoi-vi-va-quyet-sach-mo-duong-cho-doi-moi-734238.html











