Đặng Đình Hưng – Người mở đường cho những "Bến lạ" của nghệ thuật

Đặng Đình Hưng mang đến một chân dung của sự bền bỉ sáng tạo. Cuộc đời nhiều khúc quanh, tác phẩm có khi đến muộn, nhưng những tìm tòi còn khả năng gây chú ý và mở đối thoại. Niềm tự hào về ông có cơ sở ở phần đóng góp ấy: một nghệ sĩ đã sử dụng nhiều phương tiện để tìm tiếng nói riêng và khơi mở khả năng cho những người khác.Ông trở về yên nghỉ ở quê nhà sau một đời đi tìm hình thức cho âm thanh, chữ và màu sắc. Những “bến lạ” ông để lại vẫn cần người đọc bước tới, có lúc bối rối, có lúc nhận ra một điều gần gũi bất ngờ. Cuộc gặp ấy tiếp tục qua mỗi lần tác phẩm được đọc, được nghe và được nhìn lại. Đó là đời sống tiếp nối đáng trân trọng của Đặng Đình Hưng trong nghệ thuật Việt Nam.

Ông là một nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ… Ông còn là cha của nghệ sĩ dương cầm Đặng Thái Sơn, người giành giải Nhất cuộc thi Chopin của thế giới năm 1980.

Ông là một nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ… Ông còn là cha của nghệ sĩ dương cầm Đặng Thái Sơn, người giành giải Nhất cuộc thi Chopin của thế giới năm 1980.

Có những nghệ sĩ được biết đến rộng rãi khi còn sống, cũng có người để lại tiếng vọng dài lâu từ những trang di cảo. Đặng Đình Hưng thuộc về một hành trình đặc biệt như thế. Từ âm nhạc kháng chiến đến thơ và hội họa, ông bền bỉ tìm một cách biểu đạt riêng, đi qua nghèo khó, bệnh tật và những biến động của đời mình. “Bến lạ”, “Ô mai” cùng những tìm tòi về chữ, nhịp điệu và màu sắc đã góp phần tạo nên một gương mặt độc đáo của nghệ thuật Việt Nam thế kỷ XX.

1. Từ tiếng hát kháng chiến đến những năm tháng lặng thầm

Ngày 9/3/1924, Đặng Đình Hưng chào đời ở làng Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông, nay thuộc Hà Nội. Ông học trường Bưởi, rồi theo học Trường Luật Đông Dương. Cách mạng Tháng Tám đến khi việc học còn dang dở, đưa người thanh niên vào một hướng sống khác: hoạt động đoàn thể, công tác tuyên truyền và văn nghệ. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông lên chiến khu, tham gia công việc mà lời nói, câu hát và sân khấu cùng hướng tới một công chúng đang sống giữa chiến tranh.

Từ giảng đường luật đến hoạt động văn nghệ là một sự chuyển hướng đáng chú ý. Người học luật được rèn luyện để nhận biết quan hệ giữa sự việc, lý lẽ và quy tắc; người nghệ sĩ lại có lúc phải bước ra khỏi những quan hệ đã định sẵn để tìm một cách nhìn mới. Không đủ tư liệu để quy mọi đặc điểm thơ ông về những năm học luật, nhưng hành trình ấy cho thấy một tâm trí từng tiếp xúc với nhiều phương thức tiếp cận đời sống. Về sau, trong tác phẩm, ông tiếp tục đặt câu hỏi về cách ngôn ngữ tổ chức kinh nghiệm con người.

Năm 1951, ông được giao làm Đoàn trưởng kiêm Chính trị viên Đoàn Văn công Nhân dân Trung ương. Nguyễn Thụy Kha ghi nhận ông cùng Nguyễn Xuân Khoát quan tâm nghiên cứu thanh nhạc dân tộc, tìm cách kết hợp kỹ thuật biểu diễn với đặc điểm tiếng Việt và lối hát truyền thống. Bản thân Đặng Đình Hưng cũng tham gia diễn xuất trong kịch hát. Công việc của ông khi ấy trải từ tổ chức hoạt động đến sáng tác và biểu diễn.

Những tìm tòi đó đặt ra một vấn đề vẫn có ý nghĩa: tiếp nhận kỹ thuật mới thế nào để tiếng hát giữ được sắc thái riêng? Tiếng Việt có thanh điệu, cách nhả chữ và luyến láy gắn với những hình thức ca hát cụ thể. Một phương pháp có hiệu quả trong môi trường này chưa chắc thích hợp ngay với môi trường khác. Đổi mới đòi hỏi thử nghiệm, lắng nghe và điều chỉnh. Người nghệ sĩ cần biết điều gì có thể tiếp thu, điều gì phải chuyển hóa để phương tiện mới thực sự phục vụ biểu đạt.

Trong âm nhạc, dấu ấn đáng nhớ của ông là “Mừng chiến thắng Tây Bắc”, phần lời do Đào Vũ và Thái Ly viết. Ca khúc có tính chất hát múa, từng được trao giải Nhì tại Đại hội Văn công toàn quốc lần thứ nhất năm 1954. Tiếng hát ấy thuộc về không khí kháng chiến và niềm vui chiến thắng, cho thấy một Đặng Đình Hưng có khả năng tạo nên giai điệu dễ đi vào đời sống tập thể.

Nhìn từ ca khúc ấy đến thơ về sau, người đọc gặp một sự mở rộng lớn về cách biểu đạt. Có tiếng hát hướng tới sự hòa chung của nhiều người, cũng có trang thơ mang nhịp điệu riêng của một tâm trí. Hai hình thức đó cùng nằm trong cuộc đời Đặng Đình Hưng. Giữ cả hai trong chân dung giúp hiểu ông đầy đủ hơn: một người từng hoạt động giữa công chúng đông đảo, rồi dành nhiều năm cho những tìm tòi ít được công bố.

Cuối thập niên 1950, những biến động liên quan đến vụ Nhân văn – Giai phẩm ảnh hưởng nặng nề đến công việc và đời sống của ông. Trong cuộc trao đổi được đăng năm 2014, nhạc sĩ An Thuyên cho biết “Mừng chiến thắng Tây Bắc” đã có thời gian không tiếp tục được lưu hành vì tác giả liên quan vụ việc này. Một ca khúc từng được nhiều người biết đến dần trở nên xa lạ với công chúng về sau.

Đó là một phần lịch sử cần được nhìn nhận khi viết về Đặng Đình Hưng. Việc công bố và phổ biến tác phẩm bị gián đoạn khiến khoảng cách giữa người sáng tạo với người tiếp nhận kéo dài. Tuy vậy, muốn hiểu nghệ thuật của ông vẫn phải trở lại với tác phẩm. Hoàn cảnh cho biết những trở ngại ông gặp; thơ, nhạc và tranh cho biết ông đã làm gì với khả năng sáng tạo của mình trong những năm tháng ấy.

Đặng Đình Hưng viết nhiều trong lặng thầm. Theo hồi ức của bạn bè, những năm cuối đời có nghèo khó, đau ốm và những quãng sống thu mình. Nguyễn Thụy Kha nhớ căn phòng mà ông gọi bằng cái tên “siêu hầm”, một không gian gắn với việc suy nghĩ, thử nghiệm thơ và hội họa. Ông qua đời tại Hà Nội ngày 21/12/1990, khi nhiều sáng tác vẫn chưa đến được với đông đảo bạn đọc.

Những chi tiết đời sống ấy gợi thương cảm, nhưng cũng đòi hỏi sự thận trọng. Đau khổ không tự làm nên giá trị nghệ thuật. Giữa điều đã trải qua và tác phẩm còn có lao động: lựa chọn, sửa chữa, tìm cấu trúc, thử một chữ rồi bỏ một chữ. Điều đáng trân trọng ở Đặng Đình Hưng là ông tiếp tục làm việc trong những điều kiện khó khăn. Khi con đường đến công chúng chậm lại, hoạt động sáng tạo của ông vẫn diễn ra.

Từ đó có thể hiểu sự lặng thầm trong cuộc đời ông như một hoàn cảnh, đồng thời là một phần của quá trình làm nghệ thuật. Không phải tất cả những gì được viết đều sớm tìm thấy nơi công bố; cũng không phải một tiếng nói ít được nghe đã hết khả năng đối thoại. Những trang bản thảo còn lại chờ một thời điểm khác, một người đọc khác. Với Đặng Đình Hưng, sự chờ đợi ấy kéo dài qua cả ranh giới sinh tử.

2. Thơ như một cuộc tìm đường trong tiếng Việt

“Bến lạ” được xuất bản năm 1991, một năm sau khi ông qua đời; “Ô mai” ra mắt năm 1993. Khi nói về việc xuất bản thơ ông, nhà thơ Hoàng Hưng nhấn mạnh sự khác biệt trong quan niệm: Đặng Đình Hưng chú ý đến bản thân chữ, đến cách các chữ kết hợp và tạo ra ý nghĩa. Sự xuất hiện của những tác phẩm ấy đặt người đọc trước một cách làm thơ khác với nhiều thói quen tiếp nhận vốn có.

Một thói quen thường gặp là đọc thơ để tìm ngay lời giải: tác giả nói về ai, kể chuyện gì, muốn nhắn điều gì. Cách đọc ấy hữu ích với nhiều tác phẩm, nhưng có thể quá nhanh đối với một ngôn ngữ giàu liên tưởng và những chuyển động đứt nối. Với thơ Đặng Đình Hưng, người đọc cần dành thời gian cho cách câu chữ hiện ra, cho nhịp ngừng và sự lặp lại, rồi mới dần nhận biết mạch cảm xúc bên dưới.

Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy phân biệt tính nhạc trong thơ ông qua nhịp điệu bên trong, thay vì chỉ ở sự du dương của vần. Ông gợi cách hình dung “Bến lạ” như một cấu trúc nhiều bè, còn “Ô mai” có những đặc điểm gần với nhạc kịch. Đây là một hướng phê bình giúp nhận ra quan hệ giữa nền tảng âm nhạc của Đặng Đình Hưng với việc tổ chức lời thơ.

Từ gợi ý ấy, có thể hình dung một trang thơ như nơi nhiều giọng nói cùng xuất hiện. Một mạch lời đang tiến tới lại gặp một mạch khác; câu hỏi quay vào bên trong; ký ức chen giữa một sự việc ở hiện tại. Ý nghĩa khi đó hình thành qua quan hệ giữa các phần, giống như người nghe nhận biết một tác phẩm âm nhạc bằng những lần trở lại, biến đổi và tương ứng của chủ đề.

Đọc theo cách này, sự lặp lại không còn đơn thuần là nhắc lại thông tin. Một chữ trở lại sau một khoảng ngừng có thể mang sắc thái khác; một câu từng được nói dứt khoát có thể trở thành nghi vấn khi đặt vào đoạn sau. Người đọc theo dõi những thay đổi nhỏ ấy để nhận biết sự vận động của tâm trạng. Cái khó của thơ ông nằm một phần ở việc các quan hệ đó thường không được giải thích sẵn.

Trong “Bến lạ”, có một câu ngắn mà Thanh Thảo dẫn lại khi viết về ông: “Tôi không làm gì được quyển lịch”. Câu nói đưa vấn đề thời gian về một đồ vật quen thuộc. Quyển lịch nằm trong đời sống hằng ngày, có thể cầm, lật và thay; nhưng điều nó đánh dấu lại vượt khỏi khả năng can thiệp của một người. Có thể đọc ở đó sự bất lực trước tuổi tác, cũng có thể đọc một nét tự trào tỉnh táo. Cảm xúc được gợi bằng một vật cụ thể, không cần lời than dài.

Đó cũng là một khả năng đáng chú ý của nghệ thuật: chuyển một vấn đề lớn thành kinh nghiệm gần gũi. Người đọc không cần đồng nhất hoàn cảnh của mình với tác giả để nhận biết cảm giác thời gian trôi ngoài ý muốn. Một câu thơ có thể bắt đầu từ đời riêng, rồi mở ra chỗ gặp gỡ với những đời khác. Những tìm tòi khó đọc của Đặng Đình Hưng vẫn có những điểm chạm rõ ràng như thế.

Nhan đề “Bến lạ” gợi thêm một hướng suy ngẫm. Bến thường gắn với dừng lại, gặp gỡ hoặc trở về; chữ “lạ” làm nơi ấy trở nên chưa quen. Có thể xem đây là một hình ảnh thích hợp để bước vào thế giới thơ ông: người đọc tìm chỗ đứng, nhưng chỗ đứng ấy không hoàn toàn giống những điều đã biết. Một kinh nghiệm quen được đặt trong quan hệ khác và bỗng đòi hỏi phải nhìn lại.

“Ô mai” đưa đến một cách vận động khác. Theo phân tích của Nguyễn Thị Thúy Hạnh, tác phẩm có những lớp tự sự và đối thoại nội tâm, với hành trình giữa căn hầm, không gian chợ và hoạt động sáng tạo. Nhà nghiên cứu cũng lưu ý việc thay đổi điểm nhìn, thời gian và trật tự lời nói khiến câu chuyện không diễn ra theo một đường thẳng.

Từ cấu trúc ấy, có thể nhận ra một sự căng kéo giữa nhu cầu hướng ra đời sống và nhu cầu quay về bên trong. Chợ là nơi có nhiều người, nhiều vật, nhiều tiếng nói; căn hầm gợi sự thu lại và tập trung. Đặt hai không gian cạnh nhau, tác phẩm mở một cuộc trao đổi giữa cái đang diễn ra bên ngoài với điều được tâm trí tiếp nhận, biến đổi. Người sáng tạo vừa cần đời sống, vừa cần khoảng cách để làm việc với những gì đời sống đem đến.

Điều này giúp tránh cách nhìn đơn giản về sự cô độc. Một người thu mình vẫn có thể rất nhạy với tiếng nói xung quanh. Một tác phẩm mang tính nội tâm vẫn có thể chứa nhiều dấu vết sinh hoạt. Sự khác biệt nằm ở cách những dấu vết đó đi vào ngôn ngữ. Chúng không nhất thiết được kể theo thứ tự sự việc; chúng có thể trở lại qua âm thanh, qua một đồ vật, qua một liên tưởng bất chợt.

Nghiên cứu về “cơ chế tạo chữ” còn chỉ ra sự chú ý của ông tới nguyên âm, phụ âm, vần, thanh điệu và cách trình bày từ ngữ trên mặt giấy. Một số thử nghiệm đặt trọng tâm vào âm và hình thức thị giác của chữ. Những nhận xét này cho thấy thơ Đặng Đình Hưng mở rộng công việc sáng tác đến cả phần nghe và phần nhìn của ngôn ngữ.

Với người đọc, đó là lời mời thử nhiều cách tiếp cận: đọc thầm để nhận cấu trúc, đọc thành tiếng để nghe nhịp, nhìn trang giấy để nhận những khoảng cách. Mỗi cách có thể làm rõ một yếu tố. Khi chưa hiểu một đoạn, có thể giữ lại cảm giác về đoạn ấy rồi đọc tiếp, thay vì buộc mọi câu phải lập tức chuyển thành một lời giải bằng văn xuôi.

Tuy nhiên, sự mới lạ cần được đánh giá bằng hiệu quả của nó. Một liên tưởng bất thường có làm kinh nghiệm con người sâu hơn không? Một cách ngắt câu có tạo ra nhịp điệu cần thiết không? Một chữ đặt ngoài thói quen có mở thêm ý nghĩa không? Những câu hỏi ấy giúp đọc thơ thể nghiệm nghiêm túc. Trân trọng tìm tòi cũng bao gồm quyền suy xét, đồng cảm ở đoạn này và chưa đồng cảm ở đoạn khác.

Vị trí của Đặng Đình Hưng trong thơ Việt Nam vì thế nên được nhìn qua đóng góp cụ thể: ông mở thêm những khả năng phối hợp của tiếng Việt, đem kinh nghiệm âm nhạc vào tổ chức lời thơ và tìm đường biểu đạt những chuyển động phức tạp của nội tâm. Ông có một tiếng nói riêng trong môi trường nghệ thuật gắn với Văn Cao, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm. Sự gần gũi giữa những người bạn không xóa đi khác biệt trong cách sáng tạo của mỗi người.

Đọc ông hôm nay cũng là gặp một câu hỏi còn sống: tiếng Việt có thể đi đến đâu trong nghệ thuật? Một ngôn ngữ quen thuộc với người sử dụng hằng ngày vẫn có nhiều khả năng chưa được khai thác hết. Những thử nghiệm của ông nhắc người viết chú ý hơn đến vật liệu mình đang dùng, và nhắc người đọc rằng đôi khi một hình thức mới cần thời gian để trở nên có thể tiếp nhận.

3. Người thầy và đời sống tiếp nối của di cảo

Trong đời sống gia đình, Đặng Đình Hưng là cha của nghệ sĩ dương cầm Đặng Thái Sơn, người giành giải Nhất cuộc thi Chopin năm 1980. Nhưng ảnh hưởng của ông đối với người con cần được nhìn cụ thể hơn mối quan hệ huyết thống. Đặng Thái Sơn cho biết vào tuổi thiếu niên, ông được cha góp phần định hình tính cách, gu thẩm mỹ và quan điểm nghệ thuật, từ cách ngồi đàn đến cách đi đứng, nói năng.

Đó là một kiểu giáo dục diễn ra trong đời sống. Thị hiếu được hình thành qua điều người lớn coi trọng, qua cách nhận xét một tác phẩm, qua yêu cầu đối với công việc hằng ngày. Một người cha có thể không đảm nhiệm toàn bộ việc dạy kỹ thuật đàn, nhưng vẫn giúp con nhận biết thái độ cần có khi làm nghệ thuật. Trong chân dung Đặng Đình Hưng, vai trò ấy có sức nặng vì được chính người con nhớ lại.

Đặt quan hệ cha con vào bài viết còn giúp thấy sự tiếp nối giữa các loại hình nghệ thuật. Một người tìm nhịp điệu qua chữ, một người làm việc với phím đàn. Họ có phương tiện và hành trình riêng, nhưng có thể gặp nhau ở sự chú ý đến chất lượng biểu đạt. Nghệ thuật trong gia đình ấy được truyền đi qua môi trường sống, qua trò chuyện và cách đánh giá cái đẹp.

Ảnh hưởng đối với hội họa được thể hiện rõ qua Lê Thiết Cương. Họa sĩ nhớ những năm làm học trò của Đặng Đình Hưng và một lần chứng kiến ông viết trên mặt toan dòng chữ “Đêm Virgule”, được hiểu là “Đêm dấu phẩy”. Với Lê Thiết Cương, trải nghiệm ấy mở ra nhận thức về sự tối giản trong nghệ thuật, một hướng mà anh tiếp tục theo đuổi.

Một dòng chữ trên toan đặt ra câu hỏi về ranh giới giữa thơ và tranh. Người nhìn tiếp nhận nó như lời, nhưng cũng thấy vị trí và hình dáng của nó trên một bề mặt. Bài học có thể bắt đầu từ sự chồng lấn đó: tác phẩm được tạo nên bởi quan hệ giữa những yếu tố đang có mặt, và việc bớt đi có thể khiến một yếu tố trở nên rõ hơn. Hiểu như vậy, tối giản là một quá trình lựa chọn có chủ đích.

Cũng cần phân biệt ảnh hưởng với sao chép. Người học tiếp nhận một cách đặt câu hỏi, rồi tìm phương án trong công việc của mình. Lê Thiết Cương phát triển sự nghiệp hội họa riêng; ký ức về Đặng Đình Hưng cho biết một nguồn khơi mở trong quá trình ấy. Đó là hình thức tiếp nối bền vững: điều học được trở thành khả năng tự tìm đường, thay vì chỉ lặp lại cách làm của người thầy.

Trong âm nhạc, Đỗ Hồng Quân nhớ lời khuyên của Đặng Đình Hưng khi ông còn nhỏ: thử tập sáng tác và học khí nhạc. Sau thời gian học ở Moskva, ông tiếp tục cùng Đặng Hữu Phúc đến gặp người nghệ sĩ lớn tuổi. Hồi ức ấy cho thấy ảnh hưởng của Đặng Đình Hưng còn diễn ra qua những cuộc gặp trực tiếp, nơi một lời gợi ý có thể khuyến khích một người trẻ đi sâu hơn vào nghề nghiệp.

Tình bạn với Văn Cao cũng thuộc về đời sống nghệ thuật của ông. Trong bài hồi tưởng, Văn Thao kể những cuộc gặp, tranh luận và sự quan tâm của cha mình đối với khả năng sáng tạo của Đặng Đình Hưng. Giá trị đáng chú ý trong câu chuyện là sự tin cậy giữa những người nghệ sĩ: họ nhìn thấy ở nhau phần công việc còn có thể thực hiện, dù cuộc sống từng trải qua nhiều khó khăn.

Đặng Đình Hưng còn để lại nhiều tác phẩm hội họa. Những tuyển tập và triển lãm về sau cho công chúng cơ hội tiếp cận phần sáng tác này cùng với thơ. Khi chữ và tranh được đặt trong một chân dung chung, người xem có thể nhận ra ông liên tục thử phương tiện biểu đạt. Việc chuyển sang vẽ không làm hành trình thơ chấm dứt; nó mở thêm một bề mặt cho những suy nghĩ về hình, màu và khoảng trống.

Sự trở lại của tác phẩm được ghi nhận rõ qua chương trình “Đặng Đình Hưng – một bến lạ” tại Viện Pháp ở Hà Nội năm 2021. Sách tập hợp sáu tác phẩm thơ, hơn hai mươi tác phẩm hội họa và những bài viết về ông. Trong buổi giới thiệu, Đặng Thái Sơn cùng Đặng Hữu Phúc trình diễn một étude lấy cảm hứng từ thơ Đặng Đình Hưng. Thơ tiếp tục đi vào âm nhạc qua công việc của những người đến sau.

Đến dịp một trăm năm ngày sinh, “Di cảo Đặng Đình Hưng” được Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Gallery 39 giới thiệu ngày 19/12/2024. Sách đưa thêm bản thảo, thủ bút và phác thảo tới bạn đọc, trong đó có “Rra”, “Songe A”, “Phù Đổng ca”. Những tư liệu mới được công bố giúp việc nhìn nhận ông có thêm căn cứ, thay vì chỉ xoay quanh các tác phẩm đã quen thuộc.

Cũng trong năm 2024, chủ đề “Mừng chiến thắng Tây Bắc” được Diran Tavityan phóng tác cho piano và dàn nhạc, với Bích Trà biểu diễn tại chương trình “Điện Biên Phủ – Không bao giờ quên”. Một sáng tác từ thời kháng chiến được tiếp cận bằng hình thức khí nhạc trong đời sống biểu diễn mới. Đây là một dấu hiệu cụ thể về khả năng tiếp nối của di sản âm nhạc Đặng Đình Hưng. 

Những sự kiện ấy cho thấy sức sống sau tác giả cần có người gìn giữ và người thực hiện. Gia đình giữ bản thảo, bạn bè lưu kỷ niệm, người biên tập chuẩn bị văn bản, nghệ sĩ đem tác phẩm trở lại sân khấu. Mỗi việc đều góp phần giúp công chúng tiếp cận đầy đủ hơn. Sự trân trọng được thể hiện bằng công việc cụ thể và sự cẩn trọng với những gì người đã khuất để lại.

Bởi thế, nói ông ảnh hưởng đến các thế hệ văn nghệ sĩ cần dựa vào những đường truyền có thể nhận biết: sự bồi dưỡng thẩm mỹ trong gia đình; bài học nghệ thuật với người trẻ; những sáng tác gợi cảm hứng mới; những nghiên cứu tiếp tục đặt câu hỏi về thơ ông. Ảnh hưởng có thể ít ồn ào, nhưng vẫn hiện diện trong lựa chọn và công việc của người tiếp nhận.

Hà Nội, 03/10/2026
Đặng Vương Hưng
(Rút từ bộ sách "Danh nhân họ Đặng Việt Nam xưa và nay" đang tổ chức bản thảo. Kính mời các cao nhân trong và ngoài họ Đặng góp ý và bổ sung).

Đặng Vương Hưng

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/dang-dinh-hung-nguoi-mo-duong-cho-nhung-ben-la-cua-nghe-thuat-a35294.html