Đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh: Mở đường phải đi cùng kiểm soát

Theo PGS.TS. NGUYỄN TRỌNG ĐIỀU, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch sáng lập Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam, quy định mới của Đảng về đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh mở ra hướng phát huy nguồn lực xã hội cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, việc khuyến khích đảng viên kinh doanh cần đi đôi với kiểm soát thực chất xung đột lợi ích, bảo đảm liêm chính và đồng bộ với hệ thống pháp luật.

Khuyến khích kinh doanh phải đi cùng kiểm soát xung đột lợi ích

- Nhìn lại 20 năm thực hiện Quy định số 15-QĐ/TW về đảng viên làm kinh tế tư nhân, ông đánh giá thế nào về những kết quả đạt được và ý nghĩa của Quy định số 224-QĐ/TW vừa được Ban Chấp hành Trung ương ban hành ngày 14/10/2026 trong bối cảnh phát triển hiện nay?

- Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X là bước đột phá về tư duy lý luận, lần đầu tiên công nhận và cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân, góp phần xóa bỏ định kiến và rào cản tâm lý e ngại “tư sản hóa” trong hàng ngũ đảng viên.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch sáng lập Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam, PGS.TS. Nguyễn Trọng Điều. Ảnh: Minh Hoa

Nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch sáng lập Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam, PGS.TS. Nguyễn Trọng Điều. Ảnh: Minh Hoa

Thực tiễn hai thập kỷ qua cho thấy, chủ trương này đã góp phần bổ sung nguồn lực cho nền kinh tế. Số lượng đảng viên làm kinh tế tư nhân tăng từ hơn 35.000 người năm 2006 lên 187.000 người vào tháng 3/2026; số đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân tăng từ 2.350 người lên 8.600 người. Lực lượng cán bộ, công chức, sĩ quan lực lượng vũ trang nghỉ hưu, phục viên làm kinh tế tư nhân cũng đóng góp tri thức và kinh nghiệm quản trị quan trọng.

Tuy nhiên, bối cảnh hiện nay đã có những thay đổi đáng kể. Nghị quyết số 68-NQ/TW khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân; Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Mục tiêu tăng trưởng cao, hướng tới trở thành nước phát triển vào năm 2045 cũng đòi hỏi phải huy động hiệu quả hơn các nguồn lực xã hội, trong đó có trí tuệ và chuyên môn của đội ngũ đảng viên.

Toàn Đảng hiện có hơn 5,6 triệu đảng viên, số đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân mới chiếm khoảng 0,15%, còn đảng viên trong khối tư nhân chiếm khoảng 3,34%. Những con số này cho thấy dư địa huy động năng lực, trí tuệ và nguồn lực hợp pháp của đảng viên vào phát triển đất nước còn lớn. Vì vậy, Quy định 224 có ý nghĩa quan trọng trong việc tiếp tục cập nhật tư duy lý luận, gắn với yêu cầu phát triển của thực tiễn.

- Theo ông, những thay đổi quan trọng về tư duy đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh trong Quy định 224 thể hiện ở những điểm nào?

- Theo tôi, có thể nhận diện một số chuyển biến cơ bản: từ tư duy cho phép đảng viên tham gia kinh tế sang phát huy vai trò, nguồn lực của đội ngũ này; từ cách tiếp cận thiên về kiểm soát trước sang quản lý theo chức danh, vị trí công tác và mức độ rủi ro, gắn với kiểm soát thực chất xung đột lợi ích; đồng thời chú trọng bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp của đảng viên.

Trong kỷ nguyên số và kinh tế tri thức, lực lượng sản xuất tiên tiến không chỉ là máy móc hay vốn tiền tệ, mà còn là con người có tri thức, năng lực công nghệ và khả năng đổi mới sáng tạo. Đảng viên tham gia hoạt động kinh tế, vì vậy, có thể đóng góp vào phát triển sản xuất, đồng thời nêu gương về đạo đức kinh doanh, tuân thủ pháp luật, bảo vệ môi trường và thực hiện trách nhiệm xã hội.

Tuy nhiên, khuyến khích đảng viên kinh doanh không có nghĩa là giảm nhẹ yêu cầu về kỷ luật và kiểm soát xung đột lợi ích. Ngược lại, việc kiểm soát cần được thực hiện thực chất, không chỉ dừng ở kê khai. Các quyền, điều kiện và giới hạn tham gia hoạt động kinh tế cần được xem xét phù hợp với địa vị pháp lý, chức trách và mức độ rủi ro xung đột lợi ích của từng đối tượng.

Việc kiểm soát cũng cần tính đến quyền sở hữu, quyền chi phối và lợi ích thực tế, thay vì chỉ căn cứ vào người đứng tên. Mục tiêu là bảo vệ hoạt động kinh tế hợp pháp, đồng thời không để quyền lực, thông tin hay tài sản công trở thành lợi thế riêng trong kinh doanh.

Một quy định quản lý hoạt động kinh tế không thể quá cứng nhắc hoặc mang tính cấm đoán, định kiến, bởi môi trường kinh doanh thay đổi liên tục với sự xuất hiện của các mô hình kinh tế số, tài sản trí tuệ và phương thức đầu tư mới. Do đó, cần có cách tiếp cận linh hoạt, phân tầng quản lý theo chức vụ, thẩm quyền và mức độ rủi ro thực tế. Nhưng linh hoạt phải đi đôi với cụ thể, có thể định lượng và thực hiện được.

Chẳng hạn, các tiêu chí xác định hình thức đầu tư, mức độ chi phối và phạm vi “người có liên quan” cần được hướng dẫn cụ thể, với giới hạn rõ ràng, phù hợp với thực tiễn. Khi tiêu chí đủ rõ, đảng viên có thể tự đối chiếu, kê khai và thực hiện, hạn chế phải trải qua các thủ tục phê duyệt hành chính phức tạp.

Hành lang pháp lý cần minh bạch, đồng bộ

- Để các định hướng này phát huy hiệu quả trong thực tiễn, theo ông, cần chú trọng những yêu cầu nào trong tổ chức thực hiện?

- Trước hết, cần bảo đảm sự thống nhất giữa quy định của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước. Quy định của Đảng mang tính định hướng chính trị, tư tưởng và kỷ luật Đảng, trong khi hoạt động kinh tế của đảng viên diễn ra trên thị trường và chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật.

Vì vậy, các khái niệm, quyền hạn, nghĩa vụ và chế tài cần được xem xét trong mối tương thích với những luật hiện hành như Luật Doanh nghiệp, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức và các văn bản liên quan. Cùng với đó, cần rà soát, điều chỉnh những quy định pháp luật có liên quan để tạo hành lang pháp lý đồng bộ, nhất quán.

Song song đó, cần quan tâm đến cơ chế bảo vệ cán bộ, đảng viên, viên chức khoa học khi tham gia phát triển kinh tế hoặc hợp tác với khu vực tư nhân. Việc phân định rõ ranh giới giữa tài sản công và tài sản tư nhân, cũng như xem xét tính chất rủi ro trong hoạt động kinh doanh, có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ người tham gia hoạt động kinh tế hợp pháp, tránh để nỗ lực khởi nghiệp bị đồng nhất với hành vi gây thất thoát tài sản nhà nước.

Đối với cán bộ nghỉ hưu hoặc cán bộ tạm thời rời vị trí công tác để điều hành doanh nghiệp, cần tiếp tục cụ thể hóa hướng dẫn về bảo lưu chế độ, thâm niên và phân định các lĩnh vực hạn chế sau khi thôi chức vụ. Mục tiêu là vừa ngăn ngừa hiện tượng “sân sau”, vừa tránh lãng phí nguồn lực tri thức và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ.

Nhìn tổng thể, quy định mới mở ra khả năng phát huy tốt hơn nguồn lực trí tuệ, tài chính và năng lực quản trị của đảng viên cho phát triển kinh tế. Để khả năng đó trở thành kết quả thực tế, cần có hành lang pháp lý minh bạch, đồng bộ với pháp luật, đi cùng cơ chế kiểm soát thực chất xung đột lợi ích.

Đồng thời, đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh phải gương mẫu chấp hành pháp luật, tôn trọng quyền và lợi ích chính đáng của người lao động, tạo điều kiện để người lao động tiến bộ và được hưởng thành quả tương xứng với đóng góp. Điều đó góp phần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và củng cố sự gắn bó của nhân dân với Đảng.

- Xin cảm ơn ông!

Đan Thanh thực hiện

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/dang-vien-tham-gia-dau-tu-kinh-doanh-mo-duong-phai-di-cung-kiem-soat-10434967.html