Đánh thức nguồn lực đảng viên làm kinh tế tư nhân

Hai mươi năm sau Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28/8/2006 về đảng viên làm kinh tế tư nhân, câu hỏi đặt ra đã khác. Không còn là đảng viên có được làm kinh tế tư nhân hay không mà là làm thế nào để trí tuệ, vốn liếng, kinh nghiệm quản trị và tinh thần tiên phong của đội ngũ ấy trở thành một nguồn lực thực sự cho phát triển.

Câu hỏi ấy càng cấp thiết khi Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”, với mục tiêu đến năm 2030 đóng góp 55-58% GDP và giải quyết việc làm cho 84-85% tổng số lao động. Trong một khu vực gánh trọng trách lớn như thế, đảng viên phải được nhìn nhận trước hết như một nguồn lực cần khơi thông, chứ không chỉ như một đối tượng cần quản lý.

Từ “được làm” đến “làm được và đóng góp được”

Tại buổi làm việc ngày 14/9/2026 về Đề án xây dựng quy định mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu khẳng định quyền tham gia hoạt động kinh tế hợp pháp của đảng viên, gắn với địa vị pháp lý, chức trách và nghĩa vụ cụ thể. Dự thảo sẽ trình Bộ Chính trị trước khi trình Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV.

Hoạt động sản xuất tại doanh nghiệp, nơi đội ngũ người lao động trực tiếp tạo ra giá trị cho nền kinh tế. Ảnh minh họa

Hoạt động sản xuất tại doanh nghiệp, nơi đội ngũ người lao động trực tiếp tạo ra giá trị cho nền kinh tế. Ảnh minh họa

Đó là bước chuyển từ cho phép sang phát huy, nhưng cội nguồn của tư duy ấy đã có từ rất sớm. Ngày 13/10/1945, trong thư gửi giới Công Thương, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

“Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng”.

Làm giàu chính đáng chưa bao giờ đối lập với lý tưởng của người cộng sản. Điều đối lập với lý tưởng ấy là làm giàu bằng đặc quyền và trên lưng người lao động.

Một đảng viên có tri thức, có vốn, có năng lực tổ chức sản xuất sẽ tạo ra doanh nghiệp, việc làm, công nghệ và nguồn thu cho ngân sách - đóng góp cụ thể nhất cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh. Vì vậy, quy định mới không nên dừng ở việc gỡ vài rào cản, mà phải là một hành lang đủ rõ để người có năng lực yên tâm làm, dám làm, làm đúng và chịu trách nhiệm về kết quả.

Một nguồn lực không nên để lãng phí

Theo số liệu công bố cùng Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 19/8/2026 của Ban Bí thư, khu vực kinh tế tư nhân hiện có 15.221 tổ chức đảng với 187.034 đảng viên. So với năm 2019, số tổ chức đảng tăng gần 26%, nhưng số đảng viên chỉ tăng hơn 2%. Đặt cạnh một khu vực được kỳ vọng tạo ra quá nửa GDP và phần lớn việc làm, những con số ấy cho thấy nguồn lực này còn mỏng.

Chỉ thị 12 nhấn mạnh không chạy theo số lượng, không phát triển đảng viên theo mệnh lệnh hành chính. Vấn đề, vì thế, không phải là có thêm bao nhiêu đảng viên trong doanh nghiệp tư nhân, mà là đội ngũ ấy tạo ra giá trị gì.

Một doanh nhân là đảng viên đóng góp cho đất nước trước hết bằng chính sự thành công của doanh nghiệp: việc làm ổn định, lương và bảo hiểm đầy đủ, thuế nộp đủ, thương hiệu Việt được dựng lên. Đó là tinh thần tiên phong trên một mặt trận mới: mặt trận kinh tế.

Không phải đặc quyền, mà là trách nhiệm cao hơn

Nhưng phát huy nguồn lực không đồng nghĩa với tạo ra đặc quyền. Ranh giới đã rõ: tư cách đảng viên đòi hỏi trách nhiệm gương mẫu cao hơn, không tạo ra đặc quyền kinh doanh; mọi chính sách hỗ trợ phải dựa trên tiêu chí công khai, bình đẳng, không phân biệt chủ doanh nghiệp có hay không có tư cách đảng viên.

Đảng viên không được kinh doanh bằng quyền lực, nhưng hoàn toàn có thể kinh doanh bằng trí tuệ, vốn, năng lực quản trị và sức lao động của mình. Doanh nghiệp thành công nhờ quan hệ, nhờ chức vụ, nhờ thông tin nội bộ thì đó không phải là phát huy nguồn lực, mà là làm méo mó thị trường và tổn hại uy tín của Đảng. Nhiều nghiên cứu kinh tế học quốc tế cũng cho thấy: ở nơi kiểm soát quyền lực lỏng lẻo, doanh nghiệp “có quan hệ” thường dễ vay vốn hơn nhưng không vì thế mà hiệu quả hơn. Còn khi thành công đến từ năng suất, công nghệ và cạnh tranh sòng phẳng, tấm thẻ đảng không phải là lợi thế, mà là một lời cam kết: đặt lợi ích của Tổ quốc và của người lao động lên trên lợi ích riêng.

Hàng rào liêm chính để giải phóng nguồn lực

Càng mở rộng không gian kinh doanh cho đảng viên, càng phải hoàn thiện cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích. Kiểm soát tốt chính là điều kiện để mở rộng an toàn.

 Các doanh nghiệp tư nhân góp phần tạo việc làm, thúc đẩy sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Ảnh minh họa

Các doanh nghiệp tư nhân góp phần tạo việc làm, thúc đẩy sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Ảnh minh họa

Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu phân định quyền và giới hạn theo từng nhóm: từ đảng viên ngoài khu vực công đến cán bộ, công chức đương nhiệm, đảng viên trong lực lượng vũ trang, người đại diện vốn nhà nước và người đã nghỉ hưu. Cách tiếp cận ấy hợp lý, bởi không thể dùng một giới hạn chung cho những vị trí có mức độ tiếp cận quyền lực rất khác nhau.

Điều cần kiểm soát không phải là việc đảng viên có tài sản hay có doanh nghiệp, mà là nguồn gốc tài sản và mối quan hệ giữa quyền lực công với lợi ích tư. Kết luận yêu cầu cơ chế quản lý phải nhận diện được người sở hữu, người chi phối, người hưởng lợi - tức là nhìn xuyên qua mọi hình thức đứng tên hộ, “sân sau”. Một quy định tốt phải khiến người làm ăn chân chính yên tâm hơn, và khiến kẻ muốn mượn quyền lực để kinh doanh không còn chỗ nấp. Tổ chức đảng trong doanh nghiệp phải thực sự là hạt nhân chính trị, giáo dục và giám sát đảng viên, nhưng không làm thay chức năng quản trị.

Đánh giá bằng giá trị tạo ra

Không thể lấy chuyện giàu hay nghèo, càng không thể lấy quy mô tài sản để đánh giá đảng viên làm kinh tế. Điều cần nhìn là cách họ tạo ra tài sản ấy. Các tiêu chí đã được nêu cụ thể: năng suất, đổi mới, nghĩa vụ thuế, tiền lương, bảo hiểm, an toàn lao động và bảo vệ môi trường. Và một nguyên tắc rất đáng suy ngẫm: trách nhiệm xã hội phải bắt đầu từ những người đang cùng mình tạo ra giá trị; không thể lấy tài trợ, từ thiện để bù đắp cho vi phạm nghĩa vụ đối với người lao động.

 Đẩy mạnh đầu tư công nghệ, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất là hướng đi quan trọng của doanh nghiệp. Ảnh minh họa

Đẩy mạnh đầu tư công nghệ, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất là hướng đi quan trọng của doanh nghiệp. Ảnh minh họa

Đây cũng là lời giải cho băn khoăn lâu nay về bản chất giai cấp công nhân của Đảng khi đảng viên làm chủ doanh nghiệp: thước đo không chỉ nằm ở vị trí trong quan hệ sở hữu, mà ở cách ứng xử với người lao động. Một doanh nhân đảng viên có thể làm từ thiện hàng tỷ đồng, nhưng nếu doanh nghiệp trốn thuế, nợ bảo hiểm, chèn ép công nhân thì không khoản từ thiện nào chuộc lại được.

Đánh thức tinh thần tiên phong

Điều sâu xa nhất của việc hoàn thiện quy định là đánh thức tinh thần tiên phong ở nơi đất nước đang rất cần những người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đội ngũ đảng viên trong khu vực tư nhân có thể đóng vai trò đặc biệt - không phải vì là đảng viên nên được ưu tiên, mà vì là đảng viên nên phải gương mẫu hơn.

Khi một đảng viên trở thành doanh nhân thành công bằng năng lực và sự liêm chính, giá trị tạo ra không dừng ở doanh nghiệp của họ. Đó còn là niềm tin vào một môi trường kinh doanh công bằng, nơi tấm thẻ đảng không mở ra cánh cửa nào ngoài cánh cửa của trách nhiệm.

Phát huy đảng viên làm kinh tế tư nhân, vì thế, không chỉ là mở thêm một cánh cửa cho quyền kinh doanh. Đó là mở một không gian để một nguồn lực của Đảng và của xã hội được cống hiến nhiều hơn cho đất nước - với điều kiện quyền lực không biến thành đặc quyền, lợi ích không lấn át trách nhiệm và thành công kinh tế luôn đi cùng liêm chính.

Trung tướng Trần Bá Thiều, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng cục Chính trị CAND

Nguồn CAND: https://cand.vn/danh-thuc-nguon-luc-dang-vien-lam-kinh-te-tu-nhan-post823891.html