Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người DTTS: Nâng 'chất' nguồn nhân lực quốc gia
Đề án 'Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm giai đoạn 2026 - 2035, định hướng đến năm 2045' được đánh giá mở rộng cơ hội học tập cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Giờ học tại Trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Khoen On.
Đồng thời tạo hành lang chính sách dài hạn để hình thành đội ngũ trí thức, chuyên gia… người dân tộc thiểu số, góp phần phát triển bền vững vùng khó khăn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia.
Bà Hồ Thị Minh - Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Quảng Trị, Ủy viên Hội đồng dân tộc của Quốc hội: Cơ hội phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số

Bà Hồ Thị Minh.
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm ưu tiên phát triển GD-ĐT cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Quốc hội kịp thời ban hành các luật, nghị quyết để thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng; trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản cụ thể hóa chính sách, tổ chức triển khai đồng bộ công tác GD-ĐT tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đạt được những kết quả đáng ghi nhận.
Nhiều địa phương cũng ban hành các chính sách đặc thù nhằm hỗ trợ, thúc đẩy phát triển giáo dục trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Mới đây nhất, Bộ Chính trị thông qua chủ trương đầu tư xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và THCS tại 248 xã biên giới đất liền, phấn đấu hoàn thành mục tiêu trong 2 - 3 năm tới.
Với sự quan tâm như vậy, công tác GD-ĐT vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực như giáo dục phổ thông, đào tạo cử tuyển, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục dự bị đại học và giáo dục đại học. Những kết quả này góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng cơ hội việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, qua đó thúc đẩy giảm nghèo đa chiều bền vững tại các địa bàn còn nhiều khó khăn.
Tuy nhiên, bên cạnh chuyển biến tích cực, công tác giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn không ít khó khăn, bất cập. Trong đó, nhân lực chất lượng cao còn thiếu hụt ở khu vực này.
Ngày 24/12/2025, Thủ tướng phê duyệt Đề án “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm giai đoạn 2026 - 2035, định hướng đến năm 2045”. Có thể nói, đây là cơ hội lớn để hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số, góp phần phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia.
Không dừng lại ở bảo đảm cơ hội học tập, Đề án hướng tới phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng nhân lực dân tộc thiểu số có chất lượng cao, tham gia trực tiếp vào các ngành, lĩnh vực then chốt của đất nước. Để thực hiện mục tiêu này, Đề án tạo hành lang chính sách dài hạn và có định hướng chiến lược. Theo đó, khung thời gian đến 2035, tầm nhìn 2045 cho phép xây dựng lộ trình đào tạo bài bản, liên thông từ giáo dục phổ thông, giáo dục đại học đến sau đại học, gắn với nhu cầu nhân lực của từng ngành, vùng.
Khi có đội ngũ trí thức, chuyên gia, cán bộ kỹ thuật là người dân tộc thiểu số, quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại vùng đồng bào sẽ bền vững hơn, phù hợp hơn với đặc thù văn hóa, ngôn ngữ và điều kiện địa phương. Nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số sẽ là lực lượng nòng cốt tham gia hoạch định chính sách, quản lý, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, qua đó nâng cao vị thế của cộng đồng dân tộc thiểu số trong tiến trình phát triển quốc gia.
Để biến chủ trương đúng đắn thành hiệu quả thực tiễn, chính sách cần được triển khai nhất quán, dài hạn, gắn đào tạo với sử dụng và lấy người học làm trung tâm. Tôi cho rằng, việc xây dựng cơ chế phát hiện học sinh dân tộc thiểu số có năng lực nổi trội ngay từ phổ thông rất quan trọng.
Trong đó, tăng cường trường nội trú, bán trú chất lượng cao; chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu phù hợp đặc thù dân tộc thiểu số. Ngoài học bổng, cần hỗ trợ các em kỹ năng học tập, ngoại ngữ, công nghệ, kỹ năng hội nhập học thuật.
Cần gắn đào tạo với nhu cầu nhân lực và quy hoạch cán bộ; xác định rõ nhu cầu nhân lực trọng điểm và có cam kết, cơ chế tiếp nhận, sử dụng sau đào tạo, đặc biệt trong khu vực công, các ngành mũi nhọn. Bảo đảm điều kiện làm việc, cơ hội thăng tiến, đãi ngộ phù hợp để người dân tộc thiểu số yên tâm cống hiến lâu dài. Có chính sách khuyến khích quay trở lại phục vụ địa phương gắn với chính sách ưu đãi thực chất. Trong quá trình này, việc tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số cần đặc biệt quan tâm, coi trọng.
Ông Đinh Thái Vĩnh Trà - Trưởng phòng Giáo dục dân tộc và Công tác học sinh, sinh viên (Sở GD&ĐT Vĩnh Long): Triển khai đồng bộ 6 giải pháp

Ông Đinh Thái Vĩnh Trà.
Để triển khai hiệu quả công tác phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là người dân tộc thiểu số, gắn với phát triển hệ thống các Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, Sở GD&ĐT Vĩnh Long xác định trước hết cần tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền; đồng thời đẩy mạnh sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành, các cấp và sự quan tâm của toàn xã hội đối với giáo dục dân tộc.
Trọng tâm là đổi mới phương thức tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của giáo dục, nâng cao trình độ dân trí đối với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh; tăng cường, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát việc thể chế hóa các chủ trương của Đảng, cũng như việc thực hiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực GD-ĐT.
Thứ hai, phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục, tăng cường cơ sở vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh. Theo đó, tiến hành rà soát, sắp xếp mạng lưới các cơ sở giáo dục tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo lộ trình hợp lý, bảo đảm quyền lợi học tập của học sinh và phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng xã, phường. Đồng thời, chú trọng củng cố, phát triển hợp lý về số lượng, chất lượng và quy mô các trường phổ thông dân tộc nội trú, cũng như các trường có tổ chức dạy tiếng dân tộc thiểu số.
Thứ ba, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên. Cụ thể, tập trung tham mưu, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các chính sách thu hút giáo viên về công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh; xây dựng chính sách khuyến khích học sinh tốt nghiệp THPT, đặc biệt là học sinh người dân tộc thiểu số có thành tích học tập giỏi, xuất sắc, theo học các chuyên ngành sư phạm, nhất là môn học còn thiếu giáo viên.
Bên cạnh đó, tổ chức bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số, kiến thức về văn hóa các dân tộc trên địa bàn tỉnh cho cán bộ quản lý, giáo viên công tác tại vùng dân tộc thiểu số; tăng cường phối hợp với cha mẹ học sinh; giáo dục học sinh ý thức bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số.
Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên tham gia công tác xóa mù chữ; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên và các lực lượng tham gia thực hiện nhiệm vụ này.

Học sinh Trường THPT Nguyễn Huệ (Vĩnh Long). Ảnh: NTCC
Thứ tư, nâng cao chất lượng giáo dục đại trà; thực hiện hiệu quả phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, bảo tồn văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số. Trong đó, phát huy, nâng cao hiệu quả công tác xóa mù chữ, phổ cập giáo dục mầm non, tiểu học và THCS ở vùng dân tộc thiểu số. Thực hiện hiệu quả chính sách cử tuyển đối với học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số, gắn đào tạo với nhu cầu và khả năng bố trí việc làm tại địa phương.
Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả hệ thống quản lý giáo dục và hoạt động của giáo viên. Tổ chức hội thảo, tập huấn nhằm nâng cao năng lực về khoa học và công nghệ, kỹ năng ứng dụng công nghệ số, các phương pháp giáo dục tiên tiến cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục.
Thứ sáu, hoàn thiện chính sách hỗ trợ người dạy, người học; huy động nguồn lực thực hiện mục tiêu đề ra. Cụ thể, thực hiện tốt các chính sách hiện hành; tiếp tục nghiên cứu, đề xuất, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện và thực hiện hiệu quả các chính sách giáo dục đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với thực tế trên địa bàn tỉnh.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp, tích hợp, ưu tiên nguồn lực từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030; Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và các dự án thuộc danh mục đầu tư công để đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đặc biệt là việc phát triển trường phổ thông dân tộc nội trú.
Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, nhất là nhân lực đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, coi đây là một trong những khâu đột phá cho sự phát triển nhanh và bền vững của địa bàn tỉnh Vĩnh Long.
Ông Hà Trung Thành - Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Khoen On (xã Khoen On, Lai Châu): Cần “bậc thang” vững chãi để học sinh tự tin bước qua “cánh cửa” lớn

Ông Hà Trung Thành.
Đề án “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm giai đoạn 2026 - 2035, định hướng đến năm 2045” là cơ hội để học sinh dân tộc thiểu số không chỉ dừng lại ở việc biết chữ, mà còn có cơ hội trở thành kỹ sư, chuyên gia trong các lĩnh vực công nghệ, quản lý, kinh tế…
Đề án mở ra cơ chế hỗ trợ đặc thù cho học sinh, giúp giảm bớt gánh nặng kinh tế - rào cản lớn nhất khiến học sinh vùng cao bỏ lỡ cơ hội học tập chuyên sâu đào tạo nhân lực, nhân tài ở các lĩnh vực trọng điểm. Những nhân lực chất lượng cao này sau khi được đào tạo sẽ là hạt nhân quay trở lại đóng góp, thay đổi diện mạo quê hương bằng tri thức hiện đại.
Về thuận lợi triển khai Đề án, từ thực tiễn nhà trường có thể thấy, học sinh vùng cao, đặc biệt là những em có lực học tốt, thường có nghị lực rất lớn. Nhiều em vượt khó, vượt hoàn cảnh để tiếp tục học tập lên các bậc học cao hơn. Tại Khoen On, không ít học sinh hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng đã vượt khó và đang theo học tại một số trường đại học chất lượng.
Khi có một lộ trình rõ ràng từ Chính phủ, các em sẽ có động lực mạnh mẽ hơn để phấn đấu. Bên cạnh đó, Đề án được phê duyệt từ Chính phủ nên các nguồn lực xã hội và ngân sách địa phương sẽ được ưu tiên tập trung, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà trường trong công tác hướng nghiệp học sinh.
Về khó khăn, chất lượng giáo dục làm nền tảng như ngoại ngữ, tin học, kỹ năng mềm… tại các trường vùng sâu, xa, khó khăn vẫn còn khoảng cách xa so với vùng thuận lợi miền xuôi. Để đào tạo “chất lượng cao”, các em cần một nền tảng vững chắc ngay từ phổ thông. Đây là khó khăn rất lớn liên quan đến các điều kiện học tập, chất lượng đội ngũ cũng như phong trào học tập tại các vùng khó khăn.
Nhiều gia đình vẫn muốn con em đi làm sớm để có thu nhập ngay, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, thay vì theo đuổi con đường học tập dài hơi, tốn kém. Điều kiện giáo dục, cơ sở vật chất tại những nơi như xã Khoen On còn quá thiếu thốn, khó đáp ứng được yêu cầu tiếp cận các ngành trọng điểm, hiện đại.
Từ thực tế, tôi mong các cấp, ngành quản lý giáo dục có cơ chế đào tạo từ sớm, từ xa, không đợi học sinh học lên cao đẳng, đại học… mới đào tạo chất lượng cao. Cần có các lớp mũi nhọn, bồi dưỡng kỹ năng số và ngoại ngữ ngay từ trung học tại địa phương. Đồng thời, cần có cam kết đầu ra rõ ràng. Các em cần biết rằng nếu học giỏi, học đúng ngành trọng điểm sẽ có vị trí xứng đáng tại các cơ quan Nhà nước hoặc doanh nghiệp ngay tại địa phương.
Ưu tiên đầu tư hạ tầng số cho các nhà trường vùng đặc biệt khó khăn, như phủ sóng Internet tốc độ cao, cung cấp thiết bị học tập hiện đại… để thu hẹp khoảng cách tri thức. Có chính sách đặc thù cho giáo viên trực tiếp bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao tại vùng khó khăn, vì họ là người phát hiện và nuôi dưỡng những học sinh tốt, giúp các em trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao tại địa phương.
“Đề án “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm giai đoạn 2026 - 2035, định hướng đến năm 2045” là cánh cửa lớn đã mở. Nhưng để học sinh vùng khó khăn tự tin bước qua cánh cửa đó, cần xây dựng những “bậc thang” vững chãi và phù hợp với thực tế địa phương”, ông Hà Trung Thành.












