Dấu ấn tiền nhân qua những trang Hán Nôm cổ
Gia Lai là vùng đất lưu giữ nhiều giá trị văn hóa được hình thành qua các thời kỳ lịch sử. Trong đó, nguồn tư liệu Hán Nôm được phát hiện ở khu vực Tây Sơn Thượng Đạo có ý nghĩa đối với việc tìm hiểu lịch sử, văn hóa của người Kinh ở phía Đông tỉnh Gia Lai. Với gần 500 trang tư liệu có nội dung liên quan đến ruộng đất, cùng nhiều văn bản được lưu giữ tại đình, miếu và các gia đình, dòng họ, nguồn tư liệu này góp phần làm rõ quá trình di cư, định cư và lập nghiệp của cư dân trên vùng đất này qua nhiều thế hệ.

Những ngôi miếu ở Gia Lai lưu giữ nhiều giá trị văn hóa của người Kinh. Ảnh: Ái Vân
Cuối thế kỷ XVIII, vùng đất Tây Sơn Thượng Đạo gắn với phong trào Tây Sơn và quá trình hình thành các khu dân cư. Khoảng năm 1770, anh em Nguyễn Nhạc từ Tây Sơn Hạ lên Tây Sơn Thượng Đạo xây dựng căn cứ, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa năm 1771. Những địa danh như ấp Tây Sơn nhất, ấp Tây Sơn nhị, thôn Tây Sơn cùng nhiều địa danh khác gắn với Tây Sơn được lưu truyền đến ngày nay. Trong đó, nhiều văn bản Hán Nôm liên quan đến đất đai và đời sống cộng đồng được lưu giữ tại các gia đình, đình, miếu, cung cấp thêm tư liệu về quá trình hình thành và phát triển của vùng đất này.
Tư liệu Hán Nôm được tìm thấy tại nhiều địa điểm gắn với cộng đồng người Kinh. Những địa bàn như An Khê và khu vực được bản thảo gọi là huyện Bắp Pơ, là những nơi cần được nghiên cứu, đối chiếu thêm về quá trình cư dân đến sinh sống và việc lưu giữ tư liệu cổ. Các văn bản hiện còn là nguồn thông tin quan trọng để tìm hiểu lịch sử địa phương, đặc biệt là những dấu tích liên quan đến ruộng đất, tín ngưỡng và tổ chức cộng đồng qua các thời kỳ.
Dấu tích lịch sử qua tư liệu Hán Nôm
Những thư tịch cổ như Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn và các bộ sử triều Nguyễn như Đại Nam liệt truyện, Đại Nam thực lục là những nguồn tư liệu có giá trị đối với việc nghiên cứu lịch sử vùng đất miền Trung và Tây Nguyên. Bên cạnh các thư tịch này, qua nghiên cứu, khảo sát tại địa phương, các nhà nghiên cứu còn phát hiện nhiều văn bản Hán Nôm, gồm giấy tờ mua bán ruộng đất, sắc, lệnh và văn bản phong tặng người có công với triều đình. Các tư liệu có niên đại thuộc nhiều thời kỳ, trong đó có thời Cảnh Thịnh, Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị.
Các đình, miếu ở khu vực An Khê cũng là những địa điểm lưu giữ tư liệu gắn với lịch sử hình thành cộng đồng cư dân. Theo tư liệu được cung cấp, những công trình như đình An Khê, đình Cụ Am, Sinh Bảng được hình thành vào thời kỳ trước; một số công trình khác ra đời dưới các triều vua Thành Thái, Khải Định, Duy Tân và Bảo Đại. Đây là những nơi còn lưu giữ nhiều loại hình tư liệu Hán Nôm, trong đó có sắc phong thần được viết bằng mực nho trên giấy sắc với hoa văn trang trí tinh xảo; văn tế thần viết trên giấy dó truyền thống và văn tự khắc trên hoành phi, liễn đối bằng gỗ.
Theo thống kê được nêu trong tư liệu, hiện có 26 đạo sắc phong thần được lưu giữ tại 11 đình làng thuộc khu vực Tây Sơn Thượng Đạo. Đây là nguồn tư liệu cần được bảo quản, nghiên cứu nhằm làm rõ thêm lịch sử các làng, tín ngưỡng dân gian và những dấu mốc trong quá trình hình thành cộng đồng cư dân địa phương.
Tiến sĩ Lưu Hồng Sơn, Bảo tàng Pleiku, tỉnh Gia Lai cho biết: “Trong hệ thống di sản Hán Nôm, sắc phong là một nhóm tư liệu đặc biệt, bởi đây là văn bản hành chính do triều đình ban hành, có giá trị lịch sử và văn hóa tiêu biểu. Gia Lai hiện nay còn lưu giữ 26 đạo sắc phong thần ở 11 ngôi đình làng. Các sắc phong này không chỉ có ý nghĩa về văn hóa, tâm linh mà còn có ý nghĩa chính trị, phản ánh quá trình di cư, định cư, khai hoang, lập làng của người dân địa phương qua các thời kỳ lịch sử. Vì vậy, sắc phong thần được xem như “sổ đỏ” của làng, là những trang sử quý giúp tìm hiểu lịch sử địa phương và lịch sử đất nước”.
Bên cạnh đình làng, các miếu cũng lưu giữ những dấu tích về đời sống văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng. Một số nơi còn bảo quản các bài văn cúng bằng chữ Hán Nôm, giúp tìm hiểu phong tục thờ cúng và sinh hoạt tín ngưỡng qua các thời kỳ. Những tư liệu này có giá trị bởi được lưu giữ qua nhiều thế hệ, bất chấp những biến động do chiến tranh và quá trình di dời dân cư.
Miếu An Xuyên, phường An Khê, là một địa điểm còn lưu giữ văn bản phục vụ nghi lễ thờ thủy thần. Theo thông tin được cung cấp, bài văn cúng gắn với cộng đồng cư dân Bình Định cũ di cư lên An Khê vào cuối thế kỷ XIX, dưới thời vua Thành Thái. Đây là một trong những tư liệu cần được tiếp tục nghiên cứu để làm rõ nguồn gốc, niên đại và quá trình lưu truyền trong cộng đồng.
Ông Đặng Lắm, cựu chủ miếu An Xuyên cho biết: “Mỗi lần có sự thay đổi đều có người được giao gìn giữ các văn tự dùng trong nghi lễ cúng tế. Qua nhiều lần chuyển giao, những tư liệu về miếu còn lại không nhiều, chủ yếu là các bài văn cúng được các cụ cao niên trong làng cất giữ trong ống tre. Để bảo quản, các cụ thường mang về nhà cất ở nơi kín đáo, chỉ khi tổ chức cúng tế mới mang đến miếu để dâng lên”.
Cùng với đình, miếu, hệ thống chùa chiền cũng gắn với đời sống văn hóa của người Kinh và quá trình phát triển của Phật giáo tại Gia Lai. Các văn tự Hán Nôm được lưu giữ tại chùa, thể hiện trên chuông đồng, hoành phi, liễn đối bằng gỗ hoặc bia đá, là nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu lịch sử cơ sở thờ tự và hoạt động tín ngưỡng. Một số văn bản ghi tên các vị sư sáng lập chùa, góp phần bổ sung thông tin về quá trình hình thành, phát triển của các cơ sở Phật giáo trên địa bàn.
Những tư liệu này có thể cung cấp thêm căn cứ để tìm hiểu sự hiện diện của người Kinh, quá trình hình thành làng xã và sự tiếp nhận Phật giáo tại khu vực Tây Sơn Thượng Đạo. Tuy nhiên, việc xác định ngôi chùa hình thành sớm nhất cũng như niên đại cụ thể của từng văn bản cần dựa trên kết quả nghiên cứu, kiểm kê và đối chiếu tư liệu.

Các trang giấy cổ viết bằng chữ Hán Nôm được tìm thấy ở Gia Lai. Ảnh: Ái Vân
Bảo tồn, phát huy giá trị di sản Hán Nôm
Theo Tiến sĩ Lưu Hồng Sơn, văn tự Hán Nôm được tìm thấy tại các ngôi nhà cổ, trong những gia đình, dòng họ sinh sống lâu đời. Các tư liệu gồm sắc, lệnh, giấy tờ về đất đai, hoành phi, câu đối dùng để thờ tự, trang trí trong nhà hoặc từ đường. Những gia đình, dòng họ được nhắc đến trong nguồn tư liệu có họ Nguyễn, họ Trần ở An Khê; họ Nguyễn Cảnh, họ Tô ở Cửu An; họ Lê ở Tứ Thủy; họ Văn ở Tân Lai.
Theo thông tin trong bản thảo, tại An Khê hiện còn những ngôi nhà cổ của họ Bùi, họ Lê và họ Văn. Tuy nhiên, do thời gian dài chưa được bảo dưỡng, tôn tạo, kiến trúc của một số ngôi nhà đã xuống cấp. Nhà họ Văn, được xây dựng cách đây hàng trăm năm, vẫn còn tương đối nguyên vẹn cùng hệ thống hoành phi, câu đối. Việc bảo tồn những công trình này có ý nghĩa trong gìn giữ dấu tích kiến trúc truyền thống và các tư liệu gắn với lịch sử gia đình, dòng họ.
Tư liệu Hán Nôm là nguồn di sản cần được nhận diện, kiểm kê và nghiên cứu bài bản. Những văn bản còn lưu giữ tại đình, miếu, chùa và nhà cổ cung cấp thông tin về đất đai, tín ngưỡng, tổ chức cộng đồng và quá trình hình thành các khu dân cư. Khi được đối chiếu với những nguồn sử liệu khác, các tư liệu này có thể góp phần làm rõ lịch sử di cư, định cư và đời sống xã hội của người Kinh ở khu vực Tây Sơn Thượng Đạo.
Để bảo tồn và phát huy giá trị di sản Hán Nôm, tỉnh Gia Lai cần tiếp tục tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng về ý nghĩa lịch sử, văn hóa của các văn bản cổ; tổ chức kiểm kê, xác định niên đại, số hóa và hướng dẫn các gia đình, dòng họ, cơ sở thờ tự bảo quản tư liệu. Việc kết hợp nghiên cứu chuyên môn với sự tham gia của cộng đồng sẽ góp phần hạn chế nguy cơ thất lạc, hư hỏng, đồng thời tạo điều kiện để nguồn tư liệu này phục vụ nghiên cứu lịch sử địa phương và giáo dục truyền thống cho các thế hệ hôm nay.

