Dấu son từ 10 nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam đầu tiên
Quốc hội khóa I (1946-1960) là Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, đánh dấu mốc phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ của nước Việt Nam mới. Lần đầu tiên trong lịch sử, những nữ công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nô nức đi bầu cử. Phụ nữ chiếm 48% tổng số cử tri đi bầu cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước. 10 đại biểu phụ nữ đã trúng cử vào Quốc hội.

10 nữ đại biểu Quốc hội khóa I - Ảnh tư liệu
Những "hạt giống đỏ"
Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thù trong giặc ngoài đe dọa nền độc lập vừa giành được. Trong bối cảnh ấy, ngày 6/1/1946, Đảng và Bác Hồ vẫn quyết định tổ chức Tổng tuyển cử để củng cố chính quyền non trẻ, xác lập nền tảng pháp lý, khẳng định quyền làm chủ của nhân dân.
Quốc hội khóa I (1/1946 - 5/1960) là Quốc hội của độc lập dân tộc, của thống nhất đất nước và đại đoàn kết toàn dân. Quốc hội đã thông qua danh sách Chính phủ đầu tiên của Nhà nước Việt Nam độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu; thông qua hai bản Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó có bản Hiến pháp năm 1946. Đây được coi là bản Hiến pháp đầu tiên mở ra tiến trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Trong số 333 đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được bầu thông qua hình thức phổ thông đầu phiếu, có 10 đại biểu nữ (chiếm 3%). Đó là các bà: Nguyễn Thị Thục Viên (ĐBQH Hà Nội; cuối năm 1950, bà Thục Viên được bầu làm Phó Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam); Vũ Thị Khôi (Bí thư Ban Cán sự Phụ nữ tỉnh Bắc Ninh - ĐBQH tỉnh Bắc Ninh); Trương Thị Mỹ (Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Hà Đông, ĐBQH tỉnh Hà Đông); Bùi Thị Diệm, tức Lê Phương (Tỉnh ủy viên, Ủy viên Ủy ban hành chính tỉnh Hải Dương, ĐBQH tỉnh Hải Dương); Cao Thị Khương (ĐBQH tỉnh Hưng Yên); Tôn Thị Quế (ĐBQH tỉnh Nghệ An); Lê Thị Xuyến (ĐBQH tỉnh Quảng Nam, Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam từ năm 1946 đến 1956); Trịnh Thị Miếng (ĐBQH tỉnh Gia Định), Nguyễn Thị Thập (ĐBQH tỉnh Mỹ Tho, Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam các khóa II và III); Ngô Thị Huệ (ĐBQH tỉnh Bạc Liêu).
Trong số 10 nữ ĐBQH khóa I, nhiều đại biểu tiếp tục được bầu vào Quốc hội các khóa tiếp theo như: Bà Lê Thị Xuyến (ĐBQH các khóa II, III, IV, V); bà Nguyễn Thị Thập (ĐBQH các khóa II, III, IV, V, VI); bà Tôn Thị Quế (ĐBQH khóa II); bà Trịnh Thị Miếng (ĐBQH khóa II, III); bà Ngô Thị Huệ (ĐBQH khóa II, III, IV) và bà Nguyễn Thị Thục Viên (ĐBQH khóa II).

Trong phiên họp của Kỳ họp thứ 11, Quốc hội Khóa I, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 1946 - Ảnh: quochoi.vn
Dấu ấn của những nữ đại biểu Quốc hội đầu tiên
Quốc hội khóa I là nhiệm kỳ dài nhất (14 năm với tổng cộng 12 kỳ họp) và gian nan nhất (trong bối cảnh nước ta bị "thù trong giặc ngoài", hai miền chia cắt). Những đóng góp của các ĐBQH nữ đã để lại nhiều dấu ấn trên nghị trường và trong các hoạt động Quốc hội.
Trúng cử ĐBQH khóa I, bà Lê Thị Xuyến cũng là người phụ nữ đầu tiên được bầu vào Ban Thường trực Quốc hội khóa I. Để đoàn kết thống nhất các tầng lớp phụ nữ, giữa năm 1946, bà Lê Thị Xuyến cùng bà Nguyễn Khoa Diệu Hồng được Đảng giao nhiệm vụ tham gia Ban vận động sáng lập Hội LHPN Việt Nam (một bộ phận quan trọng trong Mặt trận Liên Việt). Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 20/10/1946, Hội LHPN Việt Nam ra mắt tại Quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội, bà Lê Thị Xuyến được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch đầu tiên của Hội và giữ chức vụ này suốt 10 năm (1946-1956).
Thời kỳ này, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (năm 1946) và nhiều bộ luật như: Luật Lao động (tháng 11/1946), Luật Cải cách ruộng đất (tháng 12/1953), Luật Công đoàn, Luật Hôn nhân gia đình và nhiều văn bản pháp luật khác… Trên cương vị lãnh đạo Hội LHPN Việt Nam, bà Lê Thị Xuyến cùng bà Nguyễn Thị Thục Viên đã có nhiều đóng góp vào hoạt động lập pháp của Quốc hội, nhất là những vấn đề liên quan đến phụ nữ, bình đẳng giới. Bà Nguyễn Thị Thục Viên được bầu là Ủy viên dự khuyết, rồi Ủy viên chính thức Ban Thường trực Quốc hội và ở trong Tiểu ban dự thảo Hiến pháp lần thứ nhất; trở thành thành viên nữ duy nhất trong Ban soạn thảo Hiến pháp 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Bà còn có những đóng góp tích cực vào hoạt động đối ngoại của Quốc hội như tham gia các phái đoàn thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước: Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu…
Sau kháng chiến chống Pháp, để phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước, theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ban nghiên cứu và sửa đổi Hiến pháp đã được bầu 29 thành viên do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban, trong đó có 2 nữ ĐBQH là bà Nguyễn Thị Thập và bà Trương Thị Mỹ. Hai bà đã đóng góp tiếng nói của nữ giới trong sửa đổi Hiến pháp và xây dựng một số văn bản pháp luật trong nhiệm kỳ.
Trên cương vị người đứng đầu Hội LHPN Việt Nam liên tục nhiều khóa (1955-1974), đồng thời là Phó Chủ tịch Quốc hội (1960-1981), bà Nguyễn Thị Thập đã góp phần đưa tiếng nói của phụ nữ vào việc sửa đổi Hiến pháp năm 1960, kiến nghị với Nhà nước xây dựng Luật Hôn nhân gia đình, thực hiện nguyên tắc "một vợ, một chồng". Cùng với đó, tham mưu cho Đảng, Nhà nước ban hành hàng loạt chỉ thị, nghị quyết, các văn bản pháp lý nhằm phát huy vai trò của phụ nữ và thực hiện nam nữ bình đẳng, góp phần vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ... 21 năm giữ cương vị Phó Chủ tịch Quốc hội, đến nay, bà Nguyễn Thị Thập là người phụ nữ duy nhất ở Việt Nam có thâm niên cao nhất ở vị trí quan trọng này.
Từ 3% đến 30%
Trong số 499 người trúng cử ĐBQH khóa XV, có 151 đại biểu là nữ, chiếm tỷ lệ 30,26%. Như vậy, từ 3% nữ đại biểu khóa I, đến khóa XV, tỷ lệ nữ đại biểu đã tăng 10 lần. Năm 2021, Việt Nam đứng thứ 51 trên thế giới, thứ 4 châu Á, đứng đầu trong Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam Á về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội. Kết quả hoạt động qua các nhiệm kỳ cho thấy, vai trò, tiếng nói của các nữ ĐBQH không chỉ giới hạn trong lĩnh vực xã hội hay bình đẳng giới mà còn ở những vấn đề then chốt, phức tạp của đời sống chính trị - kinh tế - xã hội: Kinh tế vĩ mô, tài chính-ngân sách, đất đai, quốc phòng - an ninh và đối ngoại.
Ở cương vị công tác nào, các nữ ĐBQH luôn phát huy phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam; đồng thời ngày càng khẳng định vị trí, vai trò người đại biểu của nhân dân, xứng đáng với sự tin tưởng của cử tri. Tỷ lệ lãnh đạo nữ trong Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội có sự tăng trưởng vượt bậc. Tiêu biểu, Quốc hội khóa XIV có Chủ tịch và Phó Chủ tịch Thường trực đều là nữ; tỉ lệ nữ lãnh đạo QH chiếm 40%, trong đó, tỉ lệ nữ Chủ nhiệm các cơ quan của Quốc hội chiếm 22,22%, tất cả các Ủy ban đều có thành viên là nữ.
Theo Nghị quyết 1891/NQ-UBTVQH15 ngày 10/11/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự kiến số lượng, cơ cấu ĐBQH khóa XVI (2026 - 2031), tổng số đại biểu dự kiến là 500 đại biểu. Nghị quyết cũng quy định, đại biểu là phụ nữ bảo đảm tỷ lệ ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ.
Trong dòng chảy 80 năm của Quốc hội ghi dấu biết bao đóng góp của các thế hệ nữ ĐBQH. Họ đã góp phần quan trọng tạo nên những thành tựu vẻ vang của lịch sử Quốc hội, của hành trình 40 năm đổi mới đất nước.
Từ những nữ ĐBQH khóa I, trải qua các kỳ bầu cử, số lượng nữ ĐBQH không ngừng tăng cả về số lượng, chất lượng. Không chỉ là 10 người mà hơn thế, đó là con số mang ý nghĩa của sự tiên phong, mở ra cánh cửa cho các thế hệ nữ đại biểu sau này.
-----------
Tài liệu tham khảo: Biên niên lịch sử Hội LHPN Việt Nam; Lịch sử Quốc hội; Nguyễn Thị Thập - người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu của thế kỷ XX (Báo Người đại biểu nhân dân); Người nữ đại biểu Quốc hội đầu tiên của Thủ đô Hà Nội (Báo Công an Nhân dân) và một số nguồn tài liệu khác.













