Đầu tư cho công nghệ phải luôn đi cùng đầu tư cho con người
Công nghệ chỉ thực sự có giá trị khi giúp thầy cô dạy tốt hơn, cán bộ quản lý làm việc hiệu quả hơn, sinh viên học tập chủ động, sáng tạo hơn.

ThS Phạm Thùy Linh - giảng viên Khoa Luật, Học viện Ngân hàng. Ảnh: NVCC.
Vai trò của AI với người dạy và người học
ThS Phạm Thùy Linh - giảng viên Khoa Luật, Học viện Ngân hàng nêu quan điểm, trong bối cảnh hiện nay, nâng cao năng lực của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý không còn đơn thuần là yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực mà đã trở thành một trong những điều kiện quyết định chất lượng và khả năng cạnh tranh của mỗi cơ sở giáo dục đại học.
Trước đây, năng lực của giảng viên chủ yếu được nhìn nhận qua kiến thức chuyên môn, phương pháp giảng dạy và năng lực nghiên cứu khoa học. Những tiêu chí đó vẫn rất quan trọng, nhưng hiện nay là chưa đủ. Một giảng viên đại học cần có thêm năng lực số, khả năng khai thác dữ liệu và học liệu số, sử dụng các nền tảng quản lý học tập, trong đó có AI một cách hiệu quả, có trách nhiệm. AI tạo sinh đang làm thay đổi khá căn bản cách thức chúng ta dạy, học và nghiên cứu.
Giảng viên có thể sử dụng AI để hỗ trợ xây dựng học liệu, thiết kế tình huống, tổng hợp thông tin, phân tích dữ liệu và nghiên cứu khoa học. Sinh viên cũng đang sử dụng AI ngày càng phổ biến. Vì vậy, câu hỏi hiện nay là sử dụng AI như thế nào để nâng cao chất lượng đào tạo nhưng vẫn bảo đảm tư duy độc lập, liêm chính học thuật và trách nhiệm của người sử dụng. Điều này đặc biệt rõ trong đào tạo luật.

Cán bộ, giảng viên Khoa Luật, Học viện Ngân hàng. Ảnh: NVCC.
AI có thể hỗ trợ tìm kiếm, hệ thống hóa và bước đầu phân tích một khối lượng lớn văn bản pháp luật, bản án hoặc tài liệu nghiên cứu. Nhưng AI cũng có thể đưa ra thông tin không chính xác, viện dẫn quy định đã hết hiệu lực, thậm chí tạo ra nguồn tài liệu không tồn tại. Vì vậy, năng lực số của giảng viên không chỉ là biết sử dụng công cụ mà còn phải bao gồm khả năng kiểm chứng nguồn và đánh giá kết quả do AI tạo ra.
Ở góc độ quản lý giáo dục, chuyển đổi số cũng không nên được hiểu đơn giản là chuyển một quy trình từ giấy sang phần mềm. Giá trị lớn hơn nằm ở việc sử dụng công nghệ và dữ liệu để thay đổi cách thức quản trị, giảm các công việc hành chính lặp lại và hỗ trợ ra quyết định. Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế cũng đặt ra những yêu cầu mới.
"Giảng viên không chỉ cần ngoại ngữ mà còn cần khả năng tham gia các mạng lưới nghiên cứu quốc tế, sử dụng cơ sở dữ liệu học thuật, tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về đào tạo, nghiên cứu và công bố khoa học. Vì vậy, phát triển đội ngũ trong giai đoạn hiện nay cần được nhìn nhận tổng thể, trong đó năng lực chuyên môn, năng lực số, ngoại ngữ và năng lực hội nhập phải hỗ trợ lẫn nhau", ThS Phạm Thùy Linh nhấn mạnh.
Đẩy mạnh chuyển đổi số

Sinh viên Học viện Ngân hàng trong lễ tốt nghiệp. Ảnh: NTCC.
TS Phan Đăng Hải - Phó Trưởng Khoa Luật, Học viện Ngân hàng cho hay, chuyển đổi số đang được Học viện triển khai theo hướng ngày càng đồng bộ hơn giữa quản trị, đào tạo và phát triển năng lực đội ngũ. Điều này phù hợp với định hướng phát triển của Học viện đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, hướng tới hệ thống quản trị hiện đại gắn với chuyển đổi số và từng bước xây dựng mô hình đại học thông minh.
Ở phương diện đào tạo, Học viện đã đưa hệ thống quản lý học tập LMS vào sử dụng, tạo môi trường để giảng viên tổ chức học liệu, giao nhiệm vụ và tương tác với sinh viên trên môi trường số. LMS không chỉ là nơi “đưa bài giảng lên mạng”, mà cần trở thành một cấu phần của hệ sinh thái học tập số, trong đó người học có thể tiếp cận học liệu, thực hiện nhiệm vụ, trao đổi và hình thành thói quen tự học.
"Đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên, Học viện cũng đã triển khai nhiều chương trình đào tạo về chuyển đổi số và kỹ năng số. Nội dung không chỉ dừng ở kỹ năng sử dụng phần mềm mà đã mở rộng sang các công cụ cộng tác, an toàn thông tin, đạo đức số, tự động hóa và ứng dụng AI" - TS Phan Đăng Hải cho biết thêm.
Theo thông tin từ ThS Phạm Thùy Linh, các chương trình đào tạo chuyển đổi số nâng cao trong thời gian gần đây đã thu hút gần 700 viên chức, người lao động tham gia. Một số nội dung được tổ chức theo hướng thực hành, ứng dụng công nghệ vào những công việc thường xuyên như tổng hợp dữ liệu, lập báo cáo, quản lý công việc và tự động hóa một số quy trình.
Một điểm đáng chú ý khác là Học viện đang từng bước đưa AI vào hệ sinh thái quản trị và hỗ trợ người học. Các giải pháp trợ lý ảo thông minh có thể hỗ trợ những nội dung như tuyển sinh, nhập học, chương trình đào tạo, học liệu, quy chế học tập và các dịch vụ của nhà trường. Tuy nhiên, vấn đề bảo mật, quản trị dữ liệu, độ chính xác của thông tin và kiểm soát rủi ro cũng được chú trọng.
Bước tiếp theo cần hướng tới là xây dựng một hệ sinh thái học tập số thực sự tích hợp, thay vì tồn tại nhiều phần mềm riêng lẻ. Hệ thống quản lý đào tạo, LMS, thư viện số, cơ sở dữ liệu nghiên cứu, các công cụ AI và dữ liệu về quá trình học tập nên từng bước được kết nối. Từ đó, nhà trường có thể hiểu tốt hơn nhu cầu của người học, giảng viên có thêm dữ liệu để điều chỉnh phương pháp và nội dung giảng dạy.
Việc bồi dưỡng năng lực số cũng nên được thiết kế phù hợp với từng nhóm. Giảng viên cần năng lực sử dụng AI trong giảng dạy và nghiên cứu; cán bộ quản lý cần năng lực quản trị dữ liệu, tự động hóa quy trình và ra quyết định dựa trên dữ liệu; sinh viên cần được trang bị khả năng sử dụng AI, khai thác dữ liệu, kiểm chứng thông tin và bảo đảm liêm chính học thuật.
"Công nghệ chỉ thực sự có giá trị khi giúp giảng viên dạy tốt hơn, cán bộ quản lý làm việc hiệu quả hơn và sinh viên học tập chủ động, sáng tạo hơn. Vì vậy, đầu tư cho công nghệ phải luôn đi cùng đầu tư cho con người. Đây mới là yếu tố quyết định để chuyển từ ứng dụng công nghệ sang một mô hình đại học số và đại học thông minh thực chất" - ThS Phạm Thùy Linh, giảng viên Khoa Luật, Học viện Ngân hàng trao đổi.
