Đầu tư nguồn điện phải đi đôi với lưới truyền tải

Chiều 3/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực.

Các ý kiến tập trung vào cơ chế giám sát tiến độ dự án, hoàn thiện khung giá và hợp đồng mua bán điện, đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư và người sử dụng điện.

Đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình (Đoàn Hưng Yên): Cần giám sát liên thông tiến độ các dự án điện

Đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên Nguyễn Thị Thanh Bình phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn - TTXVN

Đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên Nguyễn Thị Thanh Bình phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn - TTXVN

Tôi đề nghị bổ sung cơ chế giám sát tiến độ liên thông tại Điều 12, Điều 13, có đầu mối tại UBND cấp tỉnh, phối hợp với Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các đơn vị liên quan. Bởi thực tế, lựa chọn được nhà đầu tư chưa có nghĩa dự án sẽ triển khai đúng tiến độ. Dự án có thể chậm do chưa ký được hợp đồng mua bán điện, chưa thu xếp được vốn, thiếu lưới điện giải tỏa công suất hoặc chậm nghiệm thu, vận hành thương mại. Mỗi khâu chậm vài tháng có thể khiến toàn bộ dự án kéo dài một hoặc vài năm.

Do đó, cần có kế hoạch tổng thể cho từng dự án, xác định rõ trách nhiệm, thời hạn xử lý ở từng khâu, từ thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi, thỏa thuận đấu nối đến đàm phán hợp đồng mua bán điện và vận hành thương mại. Đồng thời, phải phân định rõ nguyên nhân chậm tiến độ thuộc trách nhiệm của bên nào. Việc đầu tư nguồn điện cũng cần gắn với kế hoạch xây dựng lưới điện giải tỏa công suất, bảo đảm hai công trình hoàn thành đồng bộ.

Về khung giá điện, tôi đề nghị bổ sung nguyên tắc cập nhật dữ liệu theo năm áp dụng, công nghệ và địa bàn, bảo đảm tính đầy đủ các chi phí hợp lý, hợp lệ, nhất là chi phí đất đai. Thực tế, khi xây dựng phương án khung giá năm 2026, EVN sử dụng thông số dự án mẫu được phê duyệt từ năm 2023, trước khi Luật Đất đai mới được ban hành. Trong khi đó, thay đổi chính sách bồi thường, hỗ trợ có thể làm tổng mức đầu tư tăng từ 5-40%. Nếu tiếp tục sử dụng dữ liệu cũ, khung giá sẽ không phản ánh đúng điều kiện đầu tư hiện nay.

Phương án khung giá cần do đơn vị có năng lực, độc lập với lợi ích thương mại của bên mua điện xây dựng; EVN cung cấp dữ liệu, Bộ Công Thương tổ chức thẩm định. Khung giá cần được công bố hằng năm chậm nhất trong quý I, kèm cơ chế chuyển tiếp khi chưa có khung giá mới.

Một vấn đề quan trọng khác là hợp đồng mua bán điện cần đáp ứng yêu cầu huy động vốn quốc tế. Với nhu cầu vốn cho nguồn điện giai đoạn 2026-2035 dự kiến trên 100 tỷ USD, việc thu hút nhà đầu tư quốc tế là rất cần thiết. Tuy nhiên, trong 18 dự án điện khí LNG thuộc danh mục theo dõi, mới có một dự án được đánh giá có khả năng đáp ứng tiến độ. Vướng mắc đáng chú ý là hợp đồng mua bán điện chưa đáp ứng yêu cầu của các tổ chức tài chính quốc tế.

Tôi đề nghị bổ sung cơ chế phân bổ hợp lý rủi ro tỷ giá, bởi doanh thu dự án bằng đồng Việt Nam trong khi nghĩa vụ trả nợ bằng ngoại tệ tạo ra rủi ro lớn. Đồng thời, cần có cơ chế cam kết dài hạn đối với các nguồn điện quy mô lớn, đặc biệt là điện khí LNG và điện gió ngoài khơi, phù hợp với đặc điểm từng loại hình và nhu cầu hệ thống.

Đại biểu Bùi Văn Dũng (Đoàn Thanh Hóa): Chính sách giá điện phải hài hòa lợi ích người dân và nhà đầu tư

Điện vừa là đầu vào của nền kinh tế, vừa là nhu cầu thiết yếu của mỗi gia đình. Vì vậy, sửa đổi Luật Điện lực cần giải quyết đồng thời yêu cầu bảo đảm đủ điện, thu hút đầu tư và phân chia chi phí công bằng. Các cơ chế mới cần đi kèm kiểm soát chi phí và trách nhiệm giải trình.

Về cơ chế bù đắp chi phí khi chưa kịp điều chỉnh giá điện tại điểm b khoản 12 Điều 5, tôi đề nghị làm rõ chủ thể chi trả, khoản chi phí được bù đắp, nguồn kinh phí và thời gian thực hiện. Chỉ nên bù đắp những chi phí hợp lý, hợp lệ, đã được kiểm tra và chưa thu hồi; loại trừ các khoản đã được hỗ trợ hoặc phát sinh do lỗi quản lý. Chính phủ cần quy định cụ thể nguồn, thời hạn, phương thức bù đắp và công khai kết quả. Nguyên tắc này cũng phải được thể hiện thống nhất trong cơ chế điều chỉnh giá điện tại Điều 52.

Đối với lộ trình giá điện sinh hoạt theo giờ, tôi cho rằng cần thận trọng trong quá trình triển khai; cần được thí điểm, đánh giá tác động theo từng nhóm hộ. Cơ chế này có thể khuyến khích dịch chuyển thời gian sử dụng điện, giảm áp lực đầu tư nguồn và lưới điện, nhưng khả năng thích ứng giữa các nhóm khách hàng rất khác nhau. Cơ sở sản xuất có thể điều chỉnh ca máy, trong khi gia đình công nhân khó thay đổi giờ ăn, giờ học của con để sử dụng điện vào ban đêm...

Đối với cơ chế giá công suất, tôi đề nghị bổ sung quy định kiểm chứng khả năng sẵn sàng cung cấp điện của các nhà máy, giảm trừ thanh toán khi không đáp ứng cam kết và tránh tính trùng chi phí giữa các thành phần giá.

Nhà đầu tư cần cơ chế thu hồi vốn rõ ràng, nhưng người mua điện cũng phải nhận được chất lượng cung ứng tương xứng. Chính sách điện cần hài hòa lợi ích của doanh nghiệp đầu tư và người dân sử dụng điện, bảo đảm người dân hiểu rõ cơ sở hình thành giá, được hỗ trợ khi khó khăn và tiếp cận nguồn điện ổn định.

Đại biểu Nguyễn Bình Tân (Đoàn Cà Mau): Hoàn thiện cơ chế mua bán điện trực tiếp, khơi thông đầu tư lưới truyền tải

Tôi đề nghị hoàn thiện cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) theo hướng bảo đảm quyền tự do thỏa thuận về giá, sản lượng, thời hạn và phương thức thanh toán trên cơ sở cạnh tranh, công khai, minh bạch. Đồng thời, cần đơn giản hóa điều kiện, thủ tục tham gia, mở rộng khả năng tiếp cận cơ chế này đối với khách hàng sử dụng điện lớn có nhu cầu sử dụng điện sạch và các đơn vị phát điện từ năng lượng tái tạo.

Luật cũng cần quy định rõ trách nhiệm của đơn vị vận hành hệ thống điện, đơn vị truyền tải, phân phối trong việc bảo đảm đấu nối, truyền tải, đo đếm và thanh toán các chi phí liên quan. Đặc biệt, cần có cơ chế công nhận, xác nhận nguồn gốc điện tái tạo gắn với giao dịch mua bán điện trực tiếp, giúp doanh nghiệp chứng minh tỷ lệ sử dụng điện sạch, đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu và chuỗi cung ứng quốc tế.

Đối với đầu tư hệ thống truyền tải điện, tôi đề nghị phải gắn tiến độ phát triển nguồn điện với đầu tư đường dây, trạm biến áp, nhất là tại những khu vực tập trung nhiều dự án điện gió, điện mặt trời. Thực tế, tại một số địa phương, nguồn điện đã được đầu tư nhưng lưới điện truyền tải chưa đáp ứng đồng bộ, dẫn đến tình trạng quá tải, phải hạn chế huy động công suất, làm giảm hiệu quả đầu tư và gây lãng phí nguồn lực xã hội.

Do đó, cần có cơ chế đủ hấp dẫn để huy động vốn tư nhân, nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia đầu tư các công trình truyền tải theo phương thức PPP; quy định rõ phương pháp xác định giá dịch vụ truyền tải, cơ chế thu hồi vốn, chia sẻ rủi ro và trách nhiệm vận hành. Đồng thời, rà soát, ưu tiên xử lý các điểm nghẽn truyền tải đang hạn chế công suất phát của những dự án đã hoàn thành hoặc chuẩn bị đưa vào vận hành, nhất là các dự án thuộc Quy hoạch điện VIII.

Tôi cho rằng, đầu tư nguồn điện phải đi đôi với đầu tư lưới điện. Không thể để tình trạng nhà máy điện đã xây dựng xong, có khả năng sản xuất nhưng không thể phát hết công suất chỉ vì thiếu hạ tầng truyền tải. Đây không chỉ là vấn đề hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp mà còn liên quan trực tiếp đến việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn lực xã hội và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Thùy Dương - Thắng Trung/Bnews/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/dau-tu-nguon-dien-phai-di-doi-voi-luoi-truyen-tai/442965.html