Đề xuất quy định mới về quản lý vật liệu xây dựng
Bộ Xây dựng đang dự thảo Nghị định về quản lý vật liệu xây dựng nhằm thay thế Nghị định số 09/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 của Chính phủ về quản lý vật liệu xây dựng.

Bộ Xây dựng đề xuất quy định mới về quản lý vật liệu xây dựng
Bộ Xây dựng cho biết, thực tiễn quá trình thi hành Nghị định số 09/2021/NĐ-CP cho thấy Nghị định đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng cho công tác quản lý nhà nước về vật liệu xây dựng; góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước theo nhóm vật liệu; thúc đẩy quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng; bước đầu khuyến khích phát triển vật liệu xây không nung, vật liệu xanh và tái chế.
Tuy nhiên, qua quá trình triển khai, một số nội dung của Nghị định số 09/2021/NĐ-CP phát sinh vướng mắc, bất cập cần được rà soát, điều chỉnh, cụ thể: (i) phân loại, danh mục các loại vật liệu xây dựng phục vụ công tác quản lý nhà nước chưa thật sự rõ ràng, chưa bao quát đầy đủ các nhóm vật liệu mới và vật liệu phục vụ điều kiện đặc thù; (ii) nội dung, hồ sơ, trình tự xây dựng, thẩm định, phê duyệt Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng ở Trung ương và Kế hoạch phát triển vật liệu xây dựng ở địa phương còn thiếu thống nhất, chưa gắn chặt với yêu cầu dự báo, cung cấp thông tin để hỗ trợ quản lý nhà nước và thị trường; (iii) cơ sở dữ liệu, thông tin về vật liệu xây dựng chưa được tổ chức theo hướng dùng chung, tích hợp, liên thông, dẫn đến khó khăn trong tổng hợp, theo dõi, dự báo tình hình cung ứng, nhất là đối với vật liệu xây dựng thông thường, vật liệu san lấp phục vụ các dự án, công trình trọng điểm.
Bộ Xây dựng đã dự thảo Nghị định về quản lý vật liệu xây dựng gồm 04 chương, 21 điều và 01 phụ lục; kế thừa các quy định còn phù hợp của Nghị định số 09/2021/NĐ-CP, đồng thời sửa đổi, bổ sung, chuẩn hóa và hoàn thiện các quy định để phù hợp với Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 và hệ thống pháp luật có liên quan; khắc phục các tồn tại, hạn chế trong quá trình thi hành Nghị định số 09/2021/NĐ-CP; đáp ứng yêu cầu phát triển vật liệu xây dựng theo hướng xanh, tuần hoàn, phát thải thấp và dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Các nội dung kế thừa, sửa đổi, bổ sung so với Nghị định số 09/2021/NĐ-CP
(1) Về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng (Điều 1, Điều 2): Dự thảo tiếp tục kế thừa phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 09/2021/NĐ-CP, đồng thời làm rõ hơn phạm vi quản lý nhà nước đối với vật liệu xây dựng và cấu kiện xây dựng sử dụng trong công trình xây dựng theo yêu cầu của Luật Xây dựng số 135/2025/QH15; bảo đảm nguyên tắc không quy định trùng lặp, không chồng chéo với các pháp luật chuyên ngành về địa chất và khoáng sản, quy hoạch, đầu tư, đất đai, bảo vệ môi trường, thuế, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
(2) Về giải thích từ ngữ và danh mục vật liệu xây dựng (Điều 3 và Phụ lục I): So với Nghị định số 09/2021/NĐ-CP, dự thảo bổ sung, chuẩn hóa một số thuật ngữ liên quan đến các loại vật liệu mới và vật liệu ưu tiên phát triển (vật liệu xây dựng nhẹ; vật liệu xây dựng thân thiện môi trường; vật liệu xây dựng phù hợp vùng ven biển, hải đảo; vật liệu phát thải thấp...). Việc bổ sung này nhằm thống nhất cách hiểu, làm cơ sở cho việc xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; tổ chức hoạt động đánh giá sự phù hợp, quản lý chất lượng; đồng thời làm căn cứ triển khai chính sách khuyến khích, ưu đãi, mua sắm công, đấu thầu và các cơ chế thúc đẩy sử dụng vật liệu xây dựng theo quy định của pháp luật.
(3) Về Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng (Điều 4 đến Điều 6): Dự thảo kế thừa quy định về chiến lược phát triển vật liệu xây dựng, đồng thời rà soát, hoàn thiện nội dung, hồ sơ, trình tự lập, thẩm định, phê duyệt theo hướng rõ trách nhiệm chủ trì của Bộ Xây dựng và cơ chế phối hợp liên ngành; bổ sung yêu cầu lồng ghép nội dung về bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, đổi mới công nghệ, loại bỏ công nghệ lạc hậu; gắn với dự báo nhu cầu và thị trường trong nước, quốc tế. Việc hoàn thiện nhằm khắc phục hạn chế về tính thống nhất và khả năng triển khai trong thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý, phát triển ngành vật liệu xây dựng trong giai đoạn mới.
(4) Về Kế hoạch phát triển vật liệu xây dựng ở địa phương (Điều 7 đến Điều 9): So với Nghị định số 09/2021/NĐ-CP, dự thảo chuẩn hóa nội dung, hồ sơ, trình tự lập và phê duyệt kế hoạch theo hướng gắn với nhu cầu đầu tư xây dựng, điều kiện nguồn cung tại địa phương và vùng, liên vùng; tăng cường yêu cầu dự báo nhu cầu, cân đối cung - cầu và phương án ứng phó thiếu hụt đối với vật liệu xây dựng thông thường, vật liệu san lấp. Đồng thời, dự thảo không thiết lập cơ chế "điều phối" cung - cầu theo nghĩa can thiệp hành chính vào thị trường; tập trung vào việc dự báo, cảnh báo sớm, công khai thông tin và cơ chế phối hợp theo chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan.
(5) Về chính sách khuyến khích, ưu đãi (Điều 10): Đây là nội dung được sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm cụ thể hóa đầy đủ hơn chính sách khuyến khích tại Luật Xây dựng đối với nghiên cứu, đầu tư phát triển, sản xuất và sử dụng vật liệu xây dựng mới, tái chế, xanh, nhẹ, thông minh, thân thiện môi trường, phù hợp vùng ven biển, hải đảo. So với Nghị định số 09/2021/NĐ-CP, dự thảo đã hệ thống hóa theo 03 nhóm chính sách (nghiên cứu - phát triển; đầu tư - sản xuất; sử dụng trong công trình), đồng thời làm rõ các nhóm ưu đãi và cơ chế hỗ trợ theo các hệ thống pháp luật có liên quan (đầu tư; thuế; đất đai; tín dụng; bảo vệ môi trường; sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; khoa học, công nghệ; chuyển giao công nghệ; công nghệ cao; đổi mới sáng tạo; mua sắm công, đấu thầu...). Dự thảo chỉ quy định theo hướng dẫn chiếu và nguyên tắc áp dụng, không quy định lại các ưu đãi đã được quy định chi tiết tại văn bản pháp luật chuyên ngành; việc tổ chức thực hiện sẽ theo hướng dẫn cụ thể của các cơ quan liên quan theo chức năng, nhiệm vụ để đảm bảo thống nhất, đồng bộ, tránh chồng chéo.
(6) Về sử dụng tài nguyên khoáng sản làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng (Điều 11): Dự thảo được xây dựng theo hướng quy định nguyên tắc, trách nhiệm phối hợp trong sử dụng tài nguyên khoáng sản làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng; bảo đảm thống nhất với pháp luật về địa chất và khoáng sản, bảo vệ môi trường và các quy định pháp luật có liên quan. So với Nghị định số 09/2021/NĐ-CP, dự thảo rà soát để loại bỏ các nội dung có nguy cơ chồng chéo với quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản; đồng thời cập nhật các nội dung đã được bãi bỏ, sửa đổi theo các văn bản ban hành sau.
(7) Về sử dụng amiăng trong sản xuất vật liệu xây dựng (Điều 12): Dự thảo tiếp tục kế thừa quy định quản lý sử dụng amiăng trong sản xuất vật liệu xây dựng, đồng thời rà soát để bảo đảm phù hợp với yêu cầu về an toàn sức khỏe, môi trường, quản lý hóa chất và các cam kết, định hướng liên quan; làm rõ yêu cầu tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
(8) Về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phát triển vật liệu xây dựng (Điều 13): Đây là nội dung mới được bổ sung so với Nghị định số 09/2021/NĐ-CP nhằm thể chế hóa chủ trương thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tạo cơ sở pháp lý để tăng cường nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ, phát triển công nghệ cao, công nghệ số trong ngành vật liệu xây dựng; hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, giảm tiêu hao năng lượng, nguyên nhiên liệu và giảm phát thải. Dự thảo quy định theo nguyên tắc, dẫn chiếu và cơ chế khuyến khích, bảo đảm không chồng chéo với pháp luật chuyên ngành.
(9) Về sử dụng vật liệu xây dựng và cấu kiện xây dựng trong công trình xây dựng; quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng (Điều 14, Điều 15): Dự thảo kế thừa các quy định còn phù hợp, đồng thời làm rõ yêu cầu tuân thủ thiết kế xây dựng, chỉ dẫn kỹ thuật; yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; bổ sung nội dung khuyến khích sử dụng vật liệu xanh, tái chế, phát thải thấp theo quy định của pháp luật. Việc hoàn thiện nhằm bảo đảm thống nhất với hệ thống pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và các quy định quản lý chuyên ngành của Bộ Xây dựng.
(10) Về thu hồi, tái chế, xử lý và sử dụng chất thải làm vật liệu xây dựng (Điều 16): So với Nghị định số 09/2021/NĐ-CP, dự thảo tiếp tục nhấn mạnh nguyên tắc kinh tế tuần hoàn; tăng cường trách nhiệm của cơ sở phát thải và cơ sở sử dụng; thúc đẩy xử lý, sử dụng tro, xỉ, thạch cao và phụ phẩm công nghiệp làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng và sử dụng trong công trình xây dựng khi đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và môi trường; đồng thời dẫn chiếu, bảo đảm thống nhất với pháp luật về bảo vệ môi trường và pháp luật có liên quan. Việc thể chế hóa các nhiệm vụ, giải pháp đã được giao tại các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nhằm tăng tính ổn định, minh bạch và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành.
(11) Về cơ sở dữ liệu quốc gia về vật liệu xây dựng (Điều 17): Đây là nội dung được bổ sung, hoàn thiện theo hướng quy định nguyên tắc về xây dựng, quản lý, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu về vật liệu xây dựng và tích hợp vào hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng; đồng thời quy định trách nhiệm cung cấp, cập nhật, tích hợp thông tin, dữ liệu của địa phương và doanh nghiệp phục vụ công tác quản lý nhà nước và điều hành của Bộ Xây dựng. So với Nghị định số 09/2021/NĐ-CP, dự thảo chuyển mạnh từ quy định rời rạc sang tiếp cận dữ liệu dùng chung, liên thông, tránh trùng lặp và hỗ trợ theo dõi, dự báo thị trường.
(12) Về trách nhiệm quản lý nhà nước (Điều 18): Dự thảo rà soát, cập nhật, phân định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành và địa phương theo chức năng, nhiệm vụ; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình; đề cao vai trò của địa phương trong tổ chức thực hiện quản lý, phát triển và sử dụng vật liệu xây dựng trên địa bàn. Đồng thời, dự thảo không quy định các cơ chế quản lý có thể bị hiểu là can thiệp hành chính vào cung - cầu, giá vật liệu xây dựng; tập trung vào vai trò xây dựng chính sách, hướng dẫn, tiêu chuẩn hóa, công khai minh bạch và hệ thống thông tin, dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước.
(13) Về điều khoản chuyển tiếp, hiệu lực thi hành và trách nhiệm thi hành (Điều 19 đến Điều 21): Dự thảo quy định điều khoản chuyển tiếp để bảo đảm không gián đoạn quản lý nhà nước và hoạt động của tổ chức, cá nhân; quy định rõ hiệu lực thi hành, trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong tổ chức thực hiện; đồng thời bãi bỏ Nghị định số 09/2021/NĐ-CP và các quy định khác trái với Nghị định này.
Dự thảo đang được lấy ý kiến góp ý trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Xây dựng./.











