Đề xuất tài xế xe công nghệ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
Góp ý cho việc sửa Luật Bảo hiểm xã hội, nhiều đại biểu quan tâm tới việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc với người làm việc trên nền tảng số. Đại biểu Trần Thị Diệu Thuý đề xuất xác định tài xế xe công nghệ nhóm đối tượng riêng thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Chiều 29/9, Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách lần thứ Nhất tiếp tục thảo luận về nhóm dự án thuộc lĩnh vực văn hóa, xã hội, gồm các dự án luật: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao, Luật Du lịch, Luật Thu viện, Luật Điện ảnh, Luật Di sản văn hóa, Luật Quảng cáo, Luật Báo chí; Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể nguời và hiến, lấy xác (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội.
Góp ý cho dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội, một trong những vấn đề nhiều đại biểu quan tâm là việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người làm việc trên nền tảng số và người lao động không có quan hệ lao động.

Đại biểu Trần Thị Diệu Thuý (đoàn TP.Hồ Chí Minh) phát biểu.
Khắc phục khoảng trống về bảo hiểm xã hội với lao động trên nền tảng số
Tán thành về nguyên tắc, song đại biểu Thạch Phước Bình (đoàn Vĩnh Long) lưu ý hai khái niệm “người làm việc không có quan hệ lao động” và “người làm việc trên nền tảng số” có phạm vi rộng, bao gồm nhiều phương thức làm việc và mức độ phụ thuộc khác nhau. Dự thảo cần xác định rõ tiêu chí nhận diện đối tượng, tránh việc chỉ căn cứ vào tên hợp đồng hoặc hình thức làm việc.
Theo đại biểu, cần phân biệt người thực chất có quan hệ lao động với người cung cấp dịch vụ độc lập, tự quyết định cách thức và thời gian làm việc. Nếu nền tảng trực tiếp kiểm soát việc phân công, giá dịch vụ hoặc quyền tiếp tục làm việc của người cung cấp dịch vụ, phải làm rõ trách nhiệm của nền tảng trong xác nhận thu nhập, cung cấp dữ liệu đóng bảo hiểm và phối hợp thu nộp. Chính sách cũng cần tính đến người làm việc trên nhiều nền tảng, có thu nhập không đều hoặc chỉ làm việc bán thời gian.
Đại biểu kiến nghị nghiên cứu cơ chế đóng linh hoạt, hỗ trợ nhóm thu nhập thấp và tránh đóng trùng đối với người đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo một quan hệ lao động khác.
Đánh giá cao đề xuất mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, đại biểu Lâm Văn Đoan - Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá và Xã hội nhận xét lao động nền tảng số ngày càng phổ biến, trong khi pháp luật về lao động, việc làm, bảo hiểm xã hội và các tiêu chuẩn an sinh chưa kịp thời điều chỉnh, do vậy tạo ra khoảng trống trên thực tế. Tuy nhiên, theo đại biểu, quy định mang tính nguyên tắc trong dự thảo chưa bảo đảm tính khả thi. Với một hình thái lao động mới, các quan hệ về thu, chi, đóng, hưởng và cơ chế tạo quỹ phải được nghiên cứu, đánh giá tác động kỹ lưỡng, đại biểu đề nghị.

Đại biểu Lâm Văn Đoan (đoàn Lâm Đồng) phát biểu
Tán thành nội dung này, đại biểu Trần Thị Diệu Thuý (đoàn TP.Hồ Chí Minh), đề xuất xác định tài xế xe công nghệ là một nhóm đối tượng riêng thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Theo đại biểu, đây là người trực tiếp cung cấp dịch vụ thông qua nền tảng số, chịu sự phân công, điều phối, đánh giá, xếp hạng hoặc kiểm soát bằng thuật toán của doanh nghiệp vận hành nền tảng. Việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc không nên phụ thuộc hoàn toàn vào việc quan hệ giữa tài xế và doanh nghiệp đã được xác định là quan hệ lao động theo hợp đồng hay chưa.
Thay cho tiêu chí thu nhập ổn định, thường xuyên được áp dụng cứng nhắc, đại biểu đề nghị nghiên cứu những tiêu chí có thể kiểm chứng như số ngày, số giờ hoạt động trên nền tảng, số chuyến xe hoặc giao dịch đã hoàn thành, mức độ quản lý và kiểm soát của doanh nghiệp. Đại biểu cũng đề xuất doanh nghiệp nền tảng phải cùng đóng bảo hiểm xã hội, bởi doanh nghiệp có quyền quyết định những yếu tố tác động đáng kể đến giá cước, tỷ lệ chiết khấu, phân bổ chuyến, xếp hạng, thưởng phạt và quyền duy trì tài khoản của tài xế.
Theo đại biểu, không nên để tài xế tự chịu toàn bộ mức đóng như người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện mà cần nghiên cứu cơ chế đóng góp ba bên gồm tài xế, doanh nghiệp nền tảng và Nhà nước; trong đó Nhà nước hỗ trợ tài xế thu nhập thấp hoặc trong giai đoạn đầu chuyển sang diện tham gia bắt buộc.
Giữ công cụ kiểm tra để bảo vệ quyền lợi người lao động
Một nội dung mới khác của dự thảo là đề xuất bãi bỏ quy định về quyền kiểm tra của cơ quan bảo hiểm xã hội. Về vấn đề này, đại biểu Lâm Văn Đoan kiến nghị tiếp tục giữ quyền này để tránh khoảng trống trách nhiệm. Dẫn số liệu nêu trong báo cáo của Chính phủ, đại biểu cho biết năm 2025 số đơn vị được thanh tra, kiểm tra chỉ còn hơn 7.000, giảm 61,81% so với năm 2024; số tiền chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội đến cuối năm 2025 là hơn 10.000 tỷ đồng. Có khoảng 261.000 đơn vị, tương ứng 2,75 triệu lao động, bị nợ hoặc chậm đóng bảo hiểm xã hội.

Đại biểu Thạch Phước Bình (đoàn Vĩnh Long).
Theo đại biểu, vấn đề không chỉ là xử phạt mà là nhiều quyền lợi của người lao động không được bảo đảm khi người sử dụng lao động chậm đóng hoặc trốn đóng. Cơ quan bảo hiểm xã hội quản lý dữ liệu về người tham gia và quá trình đóng, nên cần có công cụ kiểm tra để phát hiện, xử lý kịp thời.
Đại biểu Thạch Phước Bình cũng đề nghị giữ quyền kiểm tra việc thực hiện pháp luật về đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp, đồng thời phân định rõ quyền kiểm tra nghiệp vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội với chức năng thanh tra chuyên ngành. Để tránh chồng chéo và bảo đảm quyền của doanh nghiệp, người lao động, luật cần quy định phạm vi kiểm tra, trách nhiệm thông báo, quyền giải trình, nghĩa vụ cung cấp tài liệu và cơ chế chuyển vụ việc sang cơ quan thanh tra khi phát hiện dấu hiệu vi phạm thuộc thẩm quyền.
Từ góc độ người lao động, đại biểu Trần Thị Diệu Thuý đề nghị hệ thống điện tử thông báo trực tiếp khi doanh nghiệp chậm đóng, đóng thiếu hoặc đăng ký không đúng mức tiền lương làm căn cứ đóng, để người lao động kịp thời phản ánh với cơ quan bảo hiểm xã hội và công đoàn. Đồng thời, làm rõ thẩm quyền đại diện, kiến nghị xử lý và khởi kiện của công đoàn, giúp tổ chức này có đủ thông tin và công cụ pháp lý để bảo vệ quyền lợi người lao động ngay khi phát sinh vi phạm.

