Đến mới hiểu Trường Sa
Trước khi đến Trường Sa, tôi cho rằng mình đã hiểu Trường Sa đủ nhiều! Khi viết bài chân dung về Thiếu tướng Hoàng Kiền, tôi đã dành rất nhiều thời gian phỏng vấn những chặng đường đã qua của ông. Hai phần ba thông tin trong những câu chuyện ấy là về Trường Sa.
Thiếu tướng Hoàng Kiền từng gắn bó với Trường Sa từ năm 1989, khi ông mới là Trung đoàn trưởng trung đoàn công binh Hải quân 83, được phân công ra xây dựng những công trình quân sự ở Trường Sa.
Nhớ đến những ngày tháng thiếu thốn trăm bề ấy, ông bảo thương nhất là bữa cơm trên đảo của bộ đội: “Quanh năm ăn đồ hộp, khi tàu ra tiếp tế mới được mấy bữa rau, mắc bệnh đường ruột rất nhiều. Thời điểm các đơn vị công binh ra xây dựng, tàu chở vật liệu cấp hàng liên tục anh em mới có rau xanh ăn thường xuyên. Nhưng đấy không phải là kế lâu dài. Phải biết rằng, các đảo ở Trường Sa đều rất khô cằn, toàn là cát đá san hô, không có nước ngọt nên hầu như không có cây xanh. Thứ cây có thể sống được chỉ có phong ba, bàng vuông và muống biển”.
Về sau, Thiếu tướng Hoàng Kiền chính là một trong những người đầu tiên đề xuất và thực hiện công trình mang đất ra Trường Sa để các chiến sĩ trồng rau xanh, cải thiện cuộc sống.

Những cái vẫy tay lưu luyến với đất liền
Tôi cũng đã gặp những người thợ của “làng xây đảo” Bỉnh Di, Giao Thủy, Nam Định và nghe họ kể về những ngày đầu tiên xây dựng Trường Sa. Ông Nguyễn Văn Hoàn, một thợ nề giỏi của làng Bỉnh Di được chiêu mộ ra xây dựng Trường Sa kể lại: “Năm 1991, chúng tôi lần đầu đặt chân lên đảo Nam Yết, lúc bấy giờ chỉ có nắng, cát và san hô thôi, cây cối không có gì. Đến năm 2011 tôi ra Đảo Trường Sa lớn xây cái nhà truyền thống thì cây cối phủ xanh mát rượi rồi”.
Một người khác tôi gặp, cũng rất gắn bó với Trường Sa là Thiếu tướng Nguyễn Hồng Sơn, nguyên Giám đốc Bệnh viện Quân y 175, người có dấu ấn đặc biệt trong việc biến một tổ quân y 3 người ở Trường Sa thành một trung tâm y tế hiện đại như hiện nay.
Còn nhà thơ Trần Đăng Khoa, tác giả của tiểu thuyết “Đảo chìm” được nhà văn Lê Lựu đánh giá là “thần bút” thì rất thường kể cho đám hậu sinh nghe những câu chuyện của “Trường Sa ngày ấy”, khi mà ở những đảo chìm như Len Đao, Cô Lin... mới chỉ có những chiếc lều bạt dựng tạm để giữ đảo.
Cho đến khi tôi được tham gia chuyến tàu số 9 ra Trường Sa.
Trường Sa thực sự sinh động hơn, dữ dội hơn và kiên cường hơn tất cả những gì tôi có thể hình dung.

Ngoài 9 con chó thì đám hoa giấy trên đảo Đá Thị được đưa vào danh sách ưu tiên chăm sóc mỗi ngày của toàn bộ chiến sĩ
Gió muối và khí hậu đặc thù khiến không khí ở các đảo quanh năm giống “trời nồm” ở miền Bắc. Vào giữa trưa, khi cái nóng 40 độ hắt xuống, trời không một gợn gió, ngay cả một hơi thở nhẹ cũng có thể cảm giác được vị mặn của muối lan dần vào khoang mũi.
Để một cái cây bén rễ, dù là cây phong ba dễ sống nhất, các chiến sĩ đều phải bắt đầu che chở cho nó bằng lưới bọc sắt và sẻ chia nguồn nước ngọt quý giá trong suốt quá trình cây trưởng thành. Nói không quá thì mỗi mầm xanh ở đảo đều được lớn lên trong nâng niu.
Ở những đảo chìm như Đá Thị, mỗi năm người lính phải chuyển những chậu hoa giấy của mình hai lần. Nửa năm ở phía Bắc, nửa năm ở phía Nam, để tránh gió trực tiếp từ biển quất vào. Để trả nghĩa, cái đám hoa lá ấy cũng tận sức mà bung nở.
Tôi lần đầu tiên có cảm giác tha hương gặp cố nhân khi nhìn thấy giữa mênh mông biển nước và đá san hô một gốc hoa của đất liền. Cái sự sống bé nhỏ mà kiên cường ấy không biết đã gánh vác bao nhiêu là ký thác, của những người lính một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày chỉ nhìn thấy màu xanh của trời, của nước biển và màu nắng cũng xanh đến cay mắt.
Khó khăn như thế, khắc nghiệt như thế, nhưng Trường Sa bây giờ vẫn khiến tôi không thể kết nối với hình ảnh “bề mặt quần đảo cằn cỗi không khác gì Mặt trăng” như lời kể của Thiếu tướng Hoàng Kiền. Công cuộc “xanh hóa Trường Sa” đã khiến những đảo như Song Tử Tây, Sinh Tồn... được phủ xanh bằng đu đủ, hồng xiêm, rau ngót, rau đay, rau dền, rau muống, bằng những giàn bầu, giàn mướp trĩu quả.
Những đứa trẻ con trên đảo có một vẻ khỏe mạnh và dạn người đặc biệt. Khi chúng tôi ngồi nói chuyện với thầy giáo Hồng Lĩnh trên đảo Sinh Tồn, học sinh từ lớp mẫu giáo lớn đến lớp 5 vui vẻ xoay quanh thầy với đủ thứ vấn đề của những đứa nhỏ đang ở tuổi vô ưu vô lo. Trẻ con luôn có một giác quan đặc biệt đối với những người thực sự quan tâm và yêu thương nó. May mắn, những đứa trẻ ở đảo đã có một thầy giáo tốt.
Điện mặt trời, nước ngọt, đường giao thông, trường học, chùa, nhà văn hóa... đang dần dần biến những đảo hoang ở rải rác giữa biển trở thành làng, thành nơi chôn nhau cắt rốn của những thế hệ sau thời kỳ mở đường giữ đảo. Việc em bé Nguyễn Ngọc Trường Xuân được sinh ra ngay trên đảo lớn Trường Sa giống như một thông điệp về sự sống tiếp diễn và đầy sinh cơ của quần đảo này.
Mà để đổi lấy tất cả những lấp lánh ấy, là một cái giá không thể nào đo đếm. Trong bài thơ “Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra”, tôi cho là hay nhất của Nguyễn Việt Chiến, ông viết: “Có nơi nào như đất nước chúng ta/ Viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ/ Khi giặc đến vạn người con quyết tử/ Cho một lần Tổ quốc được sinh ra”. Rất nhiều người trong chúng tôi đã rơi nước mắt khi tham dự lễ tưởng niệm 64 cán bộ, chiến sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến ở đảo Gạc Ma, một nửa trong số họ đều mới chỉ mười tám hai mươi tuổi “chưa một lần biết hôn”.
Và tấm bia dính máu trên đảo Sinh Tồn sừng sững nhắc nhở về một quá khứ bi tráng gắn liền với hy sinh xương máu của bao người, bao thế hệ...
Nguồn Tiền Phong: https://tienphong.vn/den-moi-hieu-truong-sa-post1773262.tpo