Định hướng phát triển hợp tác xã giai đoạn 2026 – 2030
Trong bối cảnh mới, các hợp tác xã phải nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng tốt các tiêu chuẩn quốc tế, thúc đẩy chuyển đổi số, xây dựng các mô hình sản xuất kinh doanh chuyên nghiệp, hiện đại.

Ảnh minh họa: Lê Hồng Nhung
Bộ Tài chính vừa công bố Báo cáo Tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021 – 2025 và Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2026 – 2030.
Đến ngày 31/12/2025, Việt Nam có 65.918 tổ hợp tác với 1 triệu thành viên. Số lượng hợp tác xã đạt 35.041, tăng 34% so với năm 2020. Tổng số thành viên tham gia hợp tác xã đạt 5,98 triệu.
Cả nước hiện có 164 liên hiệp hợp tác xã, tăng 64% so với năm 2020. Tổng hợp tác xã thành viên là 1.057, tăng 66% so với năm 2020.
Báo cáo nêu rõ, giai đoạn 2026 – 2030, xu hướng phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã tại Việt Nam tiếp tục diễn ra trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triển bền vững.
Điều này đòi hỏi các hợp tác xã phải nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng tốt các tiêu chuẩn quốc tế, thúc đẩy chuyển đổi số, xây dựng các mô hình sản xuất kinh doanh chuyên nghiệp, hiện đại.
Giai đoạn này, Việt Nam tiếp tục phát triển kinh tế tập thể năng động, hiệu quả, bền vững thực sự; thu hút ngày càng nhiều nông dân, hộ gia đình, cá nhân và tổ chức tham gia; không ngừng nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cho các thành viên...
Mục tiêu đến năm 2030, cả nước có khoảng 140.000 tổ hợp tác với 2 triệu thành viên; 45.000 hợp tác xã với 8 triệu thành viên; 340 liên minh hợp tác xã với 1.700 hợp tác xã thành viên.
Số hợp tác xã hoạt động đạt loại tốt, khá chiếm từ 60% trở lên. Cả nước có trên 5.000 hợp tác xã và 500 tổ hợp tác ứng dụng công nghệ cao và sản xuất, tiêu thụ nông sản.
Đến năm 2030, khoảng 50% hợp tác xã nông nghiệp liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị.
Tại các lĩnh vực cụ thể, giai đoạn 2026 – 2030, Việt Nam tập trung phát triển hợp tác xã nông nghiệp theo mô hình dịch vụ tổng hợp, liên kết sản xuất – tiêu thụ theo chuỗi giá trị.
Các địa phương, ban ngành vận động thành lập mới hợp tác xã nông nghiệp ở các địa bàn, đặc biệt tác các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số nhằm phát triển sinh kế bền vững cho người dân.
Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng thương hiệu và đưa sản phẩm nông nghiệp chủ lực của địa phương ra thị trường.
Trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng, Việt Nam nghiên cứu xây dựng một số liên hiệp hợp tác xã công nghiệp, hợp tác xã dịch vụ công nghiệp ở những vùng có nhiều làng nghề, cụm công nghiệp nông thôn, tạo tiền đề hình thành, phát triển làng nghề mới.
Hợp tác xã trong lĩnh vực xây dựng phát triển theo hướng đa ngành nghề, kết hợp khai thác, sản xuất, cung cấp vật liệu xây dựng, thi công lắp đặt...
Trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ, Việt Nam khuyến khích phát triển các hợp tác xã theo hướng kinh doanh tổng hợp, tham gia vào hệ thống phân phối hoặc chuỗi kinh doanh của các liên hiệp hợp tác xã thương mại hoặc doanh nghiệp lớn nhằm liên kết để nâng cao khả năng cạnh tranh.
Việt Nam phát triển các hợp tác xã kinh doanh du lịch, đặc biệt các hợp tác xã du lịch cộng đồng, du lịch gắn với nông nghiệp sinh thái, trải nghiệm gắn với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa.
Trong lĩnh vực tín dụng, Việt Nam hướng tới thực hiện liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn, bảo đảm an toàn hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân. Đồng thời, nâng cao khả năng tiếp cận tài chính của thành viên quỹ tín dụng nhân dân; phát triển ngân hàng hợp tác xã có đủ năng lực tài chính...











