Doanh nghiệp khí Việt Nam củng cố nội lực, mở rộng không gian phát triển

Thị trường khí Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi sâu sắc khi LNG dần trở thành nguồn cung chủ đạo, thay thế vai trò của khí nội địa truyền thống. Với nhu cầu dự báo tăng mạnh đến năm 2030, trong khi sản lượng khai thác trong nước suy giảm, doanh nghiệp khí không còn lựa chọn nào khác ngoài tái cấu trúc chiến lược. Phát triển đồng bộ chuỗi giá trị LNG - điện - công nghiệp, cùng cơ chế điều phối thống nhất ở tầm quốc gia là chìa khóa để ngành khí mở rộng không gian phát triển và nâng tầm vị thế trong chuỗi năng lượng khu vực.

TS. Nguyễn Minh Thảo, Phó Trưởng Ban Phát triển Doanh nghiệp và Môi trường Kinh doanh (Viện Chiến lược và Chính sách Kinh tế - Tài chính, Bộ Tài chính) cho biết, thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp khí Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

“Trước đây, trong quá trình thực thi pháp luật, nhiều khó khăn, bất cập phát sinh phải chờ sửa đổi luật, dẫn đến độ trễ chính sách. Tuy nhiên, hiện nay, Chính phủ đã chủ động hơn trong việc ban hành các nghị quyết kịp thời để tháo gỡ vướng mắc, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng và khí”, TS. Nguyễn Minh Thảo chia sẻ thêm.

Theo TS. Nguyễn Minh Thảo, Nghị quyết 70-NQ/TW đã xác định bảo đảm an ninh năng lượng là nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững; khuyến khích và tạo điều kiện để các thành phần kinh tế, nhất là khu vực tư nhân, tham gia phát triển năng lượng, cạnh tranh bình đẳng trong triển khai các dự án năng lượng. Đáng chú ý, Nghị quyết nhấn mạnh định hướng phát triển điện khí LNG, phù hợp với xu hướng chuyển dịch năng lượng và giảm phát thải.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, nhiều giải pháp đang được triển khai như: rà soát, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế; xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút các dự án năng lượng quan trọng; ưu tiên bố trí vốn tín dụng; cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, cắt giảm 30-50% thời gian và chi phí tuân thủ; từng bước hình thành các trung tâm công nghiệp năng lượng quốc gia tích hợp khí, LNG, điện, lọc - hóa dầu và năng lượng tái tạo.

Từ góc nhìn thực tiễn, TS. Phạm Quý Ngọc, chuyên gia của Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) cho rằng ngành khí Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi mang tính cấu trúc. Nếu trước đây thị trường vận hành dựa trên nguồn khí nội địa tương đối ổn định, thì hiện nay cán cân cung cầu đang thay đổi nhanh chóng: sản lượng trong nước suy giảm tự nhiên, trong khi nhu cầu cho điện và công nghiệp tiếp tục gia tăng.

Theo các kịch bản phát triển đến năm 2030, nhu cầu khí có thể tăng gấp 3-4 lần so với hiện nay, đạt mức 30-35 tỷ m³/năm. Trong khi đó, sản lượng khai thác nội địa mới chỉ dao động quanh mức 8-9 tỷ m³/năm và có xu hướng giảm dần. Điều này đồng nghĩa LNG nhập khẩu sẽ trở thành nguồn cung chủ đạo, với tỷ trọng có thể chiếm tới 70-75% tổng nguồn cung sau năm 2030.

Sự chuyển dịch này không đơn thuần là thay đổi nguồn hàng, mà còn thay đổi đối với toàn bộ cấu trúc thị trường: từ mô hình đầu tư hạ tầng, cơ chế giá, hợp đồng mua bán, đến quản trị rủi ro và điều phối hệ thống. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh chuyển dịch năng lượng và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0”, khí thiên nhiên tiếp tục được xác định là nhiên liệu chuyển tiếp bắt buộc trong ít nhất hai đến ba thập kỷ tới.

Tuy nhiên, song hành với cơ hội là những thách thức không nhỏ. Sản lượng khí nội địa đang suy giảm tự nhiên, trong khi chi phí phát triển các mỏ mới cao hơn đáng kể so với các mỏ hiện hữu, tạo áp lực lớn lên giá thành và hiệu quả đầu tư. Khung khổ pháp lý và cơ chế điều hành thị trường khí vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh, khiến quá trình vận hành và phân bổ nguồn lực chưa đạt mức tối ưu. Cơ cấu tiêu thụ hiện nay còn phụ thuộc quá lớn vào điện khí, tiềm ẩn rủi ro tập trung nếu thị trường điện biến động. Bên cạnh đó, tiến độ triển khai một số dự án hạ tầng trọng điểm chưa đáp ứng yêu cầu, ảnh hưởng đến tính đồng bộ và khả năng liên kết của toàn chuỗi giá trị khí.

Trước những cơ hội và thách thức đan xen đó, doanh nghiệp khí Việt Nam cần một định hướng chiến lược rõ ràng. Theo đề xuất của TS. Phạm Quý Ngọc, khung chiến lược phát triển có thể dựa trên ba trụ cột.

Thứ nhất, củng cố nền tảng thị trường điện khí. Đây vẫn là thị trường lớn và ổn định nhất, song cần hoàn thiện cơ chế chuyển ngang giá khí sang giá điện một cách minh bạch, tự động, hạn chế tình trạng dồn rủi ro giá lên doanh nghiệp. Đồng thời, các dự án hạ tầng LNG quy mô lớn cần được tiếp cận cơ chế bảo lãnh, chia sẻ rủi ro và các nguồn tín dụng xanh quốc tế để đảm bảo tính khả thi tài chính.

Thứ hai, mở rộng thị trường tiêu thụ ngoài điện, thâm nhập sâu hơn vào lĩnh vực công nghiệp và giao thông. Từ các trung tâm LNG lớn như Thị Vải, Sơn Mỹ, khí có thể được phân phối linh hoạt đến các khu công nghiệp, khu đô thị và khách hàng phân tán. Thành công của mô hình này phụ thuộc vào tối ưu logistics và cơ chế giá phù hợp với từng phân khúc khách hàng. Đây là mô hình mà nhiều doanh nghiệp quốc tế đã triển khai hiệu quả và doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi, áp dụng.

Thứ ba, nâng tầm vai trò doanh nghiệp trong chuỗi quốc tế. Thay vì chỉ là bên mua LNG, doanh nghiệp Việt Nam cần từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, từ thương mại, lưu trữ đến đầu tư hạ tầng ở nước ngoài. Đây là bước đi đòi hỏi năng lực tài chính, quản trị và sự hỗ trợ chính sách ở cấp quốc gia. Đáng chú ý, ông Phạm Quý Ngọc nhấn mạnh vai trò điều phối quốc gia là yếu tố then chốt. Nếu thiếu quy hoạch đồng bộ và cơ chế điều phối thống nhất, thị trường LNG có nguy cơ phát triển manh mún, trùng lặp hạ tầng, làm gia tăng chi phí toàn hệ thống và giảm sức cạnh tranh.

“Phát triển đồng bộ chuỗi giá trị LNG - điện - công nghiệp không chỉ là bài toán kinh tế, mà là lựa chọn chiến lược”, TS. Phạm Quý Ngọc nhận định. Theo ông, nếu tận dụng tốt giai đoạn 5-10 năm tới để hoàn thiện hạ tầng, cơ chế và năng lực quản trị, doanh nghiệp khí Việt Nam không chỉ đứng vững ở thị trường nội địa mà còn có thể từng bước vươn ra khu vực, tham gia sâu hơn vào mạng lưới năng lượng quốc tế.

Ngọc Ánh

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/doanh-nghiep-khi-viet-nam-cung-co-noi-luc-mo-rong-khong-gian-phat-trien-178055.html