Doanh nghiệp tham gia một nửa số nhiệm vụ KHCN, góp 40% vốn

Đến năm 2030, tối thiểu 50% nhiệm vụ KHCN đặt hàng phải có doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp, với vốn đối ứng ít nhất 40%. Mục tiêu này đánh dấu sự thay đổi về cách đầu tư nghiên cứu, gắn kết quả khoa học với nhu cầu thực tiễn, thương mại hóa.

Việc đưa doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đồng thời yêu cầu có vốn đối ứng là một trong những định hướng đáng chú ý của Đề án “Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026-2035” theo Quyết định số 1951 ngày 8/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ.

Định hướng này xuất phát từ thực tế hệ thống chương trình quốc gia đã tạo ra khối lượng lớn nhiệm vụ nghiên cứu, công bố khoa học và nhân lực trình độ cao, nhưng kết quả chuyển giao, ứng dụng và thương mại hóa vẫn chưa tương xứng. Bài toán đặt ra là tổ chức lại nguồn lực, gắn hoạt động nghiên cứu với nhu cầu của doanh nghiệp và hiệu quả thực tế đối với nền kinh tế.

Hàng nghìn nhiệm vụ khoa học, thương mại hóa là bài toán lớn

Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết trong giai đoạn 2016-2025, hệ thống chương trình khoa học và công nghệ quốc gia đã đạt nhiều kết quả quan trọng.

Số liệu tổng hợp phục vụ xây dựng Đề án tái cấu trúc cho thấy, khoảng 42 chương trình thuộc phạm vi đánh giá đã triển khai khoảng 4.800 nhiệm vụ, tạo ra 6.677 bài báo quốc tế thuộc danh mục Web of Science (WoS) và Scopus, đồng thời góp phần đào tạo 1.579 tiến sĩ.

Bộ Khoa học và Công nghệ ghi nhận 193 kết quả sáng chế, sở hữu trí tuệ và 67 sản phẩm thương mại hóa. Những kết quả này phản ánh đóng góp của các chương trình đối với phát triển tri thức, đào tạo nhân lực, tạo lập tài sản trí tuệ và ứng dụng khoa học, công nghệ.

Ông Hoàng Anh Tú cho rằng việc tái cấu trúc các chương trình khoa học và công nghệ nhằm tập trung nguồn lực và tạo hiệu quả thực tế đối với nền kinh tế. Ảnh: M.Hà.

Ông Hoàng Anh Tú cho rằng việc tái cấu trúc các chương trình khoa học và công nghệ nhằm tập trung nguồn lực và tạo hiệu quả thực tế đối với nền kinh tế. Ảnh: M.Hà.

Dẫn kết quả báo cáo, ông Tú chỉ ra bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động tổ chức chương trình vẫn còn một số hạn chế. Nguồn lực còn phân tán, nhiệm vụ có sự giao thoa, thiếu liên thông từ nghiên cứu đến phát triển công nghệ và thương mại hóa.

Đáng chú ý, việc đánh giá chương trình còn thiên về quá trình thực hiện và đầu ra của từng nhiệm vụ, chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả và tác động đối với nền kinh tế.

Điều này đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tổ chức và quản lý các chương trình khoa học, công nghệ.

"Thay vì chỉ quan tâm đã triển khai bao nhiêu nhiệm vụ, công bố bao nhiêu bài báo hay tạo ra bao nhiêu sản phẩm nghiên cứu, hệ thống cần đánh giá sâu hơn kết quả nghiên cứu được ứng dụng ra sao, doanh nghiệp có tiếp nhận hay không và những đóng góp cụ thể đối với năng suất, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế", ông Tú nói.

Rà soát 33 chương trình, bước đầu của quá trình tái cấu trúc

Theo ông Hoàng Anh Tú, qua rà soát ban đầu phục vụ xây dựng Đề án, Bộ Khoa học và Công nghệ đã xác định 33 chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia đang còn hiệu lực thuộc phạm vi quản lý. Trong đó, 25 chương trình do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt và 8 chương trình do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Đây là bước rà soát ban đầu, không phải toàn bộ danh mục chương trình thuộc phạm vi Đề án. Theo Quyết định 1951, việc tái cấu trúc còn bao gồm các chương trình do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương phê duyệt theo thẩm quyền, đồng thời cập nhật những chương trình được phê duyệt mới trong quá trình thực hiện.

Doanh nghiệp thường có xu hướng tập trung vào những nghiên cứu ngắn hạn, có khả năng tạo ra lợi nhuận và sớm đưa kết quả vào thương mại hóa. Ảnh: ĐHBKHN.

Doanh nghiệp thường có xu hướng tập trung vào những nghiên cứu ngắn hạn, có khả năng tạo ra lợi nhuận và sớm đưa kết quả vào thương mại hóa. Ảnh: ĐHBKHN.

Trên cơ sở kết quả rà soát, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ đánh giá sự cần thiết, hiệu quả thực hiện và mức độ giao thoa, trùng lặp của từng chương trình để đề xuất phương án tiếp tục, điều chỉnh, tích hợp, thay thế hoặc kết thúc theo đúng thẩm quyền.

Đối với các chương trình do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nếu nội dung điều chỉnh thuộc thẩm quyền của Thủ tướng, Bộ phải báo cáo và hoàn thiện hồ sơ trình Thủ tướng xem xét, quyết định.

"Điều quan trọng là tái cấu trúc không đồng nghĩa với việc tự động dừng chương trình đang thực hiện. Nhiệm vụ đã được phê duyệt cần được bảo đảm tính liên tục, đồng thời xử lý hợp đồng, kinh phí, tài sản và kết quả theo quyết định của cấp có thẩm quyền và pháp luật", ông Hoàng Anh Tú nói và khẳng định mục tiêu không phải giảm cơ học số lượng chương trình mà làm rõ vị trí, sản phẩm và trách nhiệm của mỗi chương trình trong toàn hệ thống.

6 nhóm chương trình, kết nối từ nghiên cứu đến thương mại hóa

Một thay đổi quan trọng của Đề án là tổ chức hệ thống chương trình thuộc phạm vi Đề án thành 6 nhóm, nhằm khắc phục tình trạng phân tán và tăng cường liên thông trong toàn bộ chuỗi hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Nhóm thứ nhất phát triển tiềm lực, gồm nhân lực, tổ chức nghiên cứu, phòng thí nghiệm và hạ tầng dùng chung.

Nhóm thứ hai nghiên cứu cơ bản, tạo tri thức mới và nền tảng khoa học.

Nhóm thứ ba tập trung giải quyết các bài toán khoa học và công nghệ trọng điểm, liên ngành.

Nhóm thứ tư thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết quả.

Nhóm thứ năm là các chương trình quốc gia đặc biệt, trong đó có phát triển công nghệ lõi và công nghệ chiến lược.

Nhóm thứ sáu tập trung vào chuyển đổi số quốc gia.

Mỗi nhóm có mục tiêu và định hướng kết quả riêng, nhưng được thiết kế để bổ trợ lẫn nhau, kết nối từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ đến ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm.

Đề án xác định doanh nghiệp là trung tâm trong ứng dụng công nghệ, chuyển giao, đổi mới công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Ảnh: ĐH Công nghệ ĐHQGHN.

Đề án xác định doanh nghiệp là trung tâm trong ứng dụng công nghệ, chuyển giao, đổi mới công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Ảnh: ĐH Công nghệ ĐHQGHN.

Lãnh đạo Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ lấy ví dụ: Trong lĩnh vực lưu trữ năng lượng, kết quả nghiên cứu vật liệu pin có thể được chuyển tiếp sang nhiệm vụ hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm sản phẩm và chuyển giao cho doanh nghiệp. Đây là cách tiếp cận minh họa cho yêu cầu liên thông giữa các giai đoạn nghiên cứu và phát triển sản phẩm.

“Việc tổ chức thành 6 nhóm nhằm định hướng ưu tiên, tập trung nguồn lực, tăng cường liên thông, theo dõi, đánh giá và điều phối ở quy mô quốc gia”, ông Hoàng Anh Tú cho biết.

Đáng chú ý, việc phân thành 6 nhóm không làm phát sinh loại hình chương trình mới, cấp quản lý trung gian hoặc thủ tục hành chính mới; không làm thay đổi thẩm quyền xây dựng, thẩm định, phê duyệt, quản lý và tổ chức thực hiện chương trình theo quy định pháp luật.

Đề án cũng xác định doanh nghiệp là trung tâm trong ứng dụng công nghệ, chuyển giao, đổi mới công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong tạo lập tri thức mới, phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và đào tạo nhân lực chất lượng cao.

Đặt mục tiêu đo hiệu quả thay vì chỉ đếm nhiệm vụ

Cùng với việc tổ chức lại hệ thống, Đề án đặt ra những chỉ tiêu cụ thể nhằm thay đổi phương thức quản lý, đánh giá chương trình theo mục tiêu, kết quả, hiệu quả và tác động thực tế.

Đến năm 2030, tối thiểu 50% nhiệm vụ đặt hàng phải có doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp, trong đó vốn đối ứng đạt ít nhất 40% tổng kinh phí của các nhiệm vụ này. Tỷ lệ nhiệm vụ có kết quả được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hoặc có công bố quốc tế uy tín thuộc danh mục WoS/Scopus đạt tối thiểu 40%.

Đề án đặt mục tiêu hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực, ít nhất 20 sản phẩm trọng điểm quốc gia và sản phẩm công nghệ chiến lược, đồng thời phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược. Số doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được thành lập trên cơ sở thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu phấn đấu đạt tối thiểu 250 doanh nghiệp.

Đến năm 2035, tỷ lệ nhiệm vụ có doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp tăng lên tối thiểu 60%, vốn đối ứng đạt ít nhất 50%; tỷ lệ nhiệm vụ có kết quả sở hữu trí tuệ hoặc công bố quốc tế uy tín đạt tối thiểu 50%.

Các mục tiêu dài hạn hơn gồm phát triển lũy kế ít nhất 50 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn quốc tế, hoàn thiện và thương mại hóa quy mô công nghiệp lũy kế ít nhất 50 sản phẩm trọng điểm quốc gia và sản phẩm công nghệ chiến lược, phát triển tối thiểu 30 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược và thành lập ít nhất 500 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.

Để theo dõi các mục tiêu này, 100% chương trình thuộc phạm vi Đề án sẽ được quản lý, theo dõi tiến độ và đánh giá trên nền tảng số. Bộ chỉ tiêu được xây dựng theo khung logic IOOI, gồm Đầu vào (Input), Đầu ra (Output), Hiệu quả (Outcome) và Tác động (Impact).

Theo đó, việc đánh giá không chỉ dừng ở kinh phí, nhân lực, hạ tầng được đầu tư hay số lượng sản phẩm được tạo ra, mà còn xem xét mức độ ứng dụng, tiếp nhận, chuyển giao và đóng góp của kết quả nghiên cứu đối với năng suất, năng lực cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế.

Theo kế hoạch, trong năm 2026, Bộ Khoa học và Công nghệ tập trung rà soát, xây dựng phương án tổ chức lại các chương trình thuộc phạm vi quản lý, kiện toàn Ban chủ nhiệm hoặc cơ chế tư vấn, điều phối chuyên môn, đồng thời xây dựng và vận hành nền tảng số phục vụ quản lý, theo dõi và đánh giá.

Trong quý I/2027, Bộ tiếp tục hoàn thiện và hướng dẫn khung chỉ tiêu đánh giá theo mô hình IOOI. Các phương án tổ chức lại chương trình chỉ có hiệu lực sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Với lộ trình đến năm 2035, yêu cầu đặt ra không đơn thuần là sắp xếp lại số lượng chương trình, mà là chuyển từ cách quản lý thiên về đầu vào và tiến độ sang quản lý bằng kết quả, hiệu quả và tác động. Qua đó, nguồn lực khoa học và công nghệ được tập trung hơn, kết quả nghiên cứu có cơ hội đi xa hơn trên con đường trở thành công nghệ, sản phẩm và giá trị thực tế cho nền kinh tế.

Anh Lê

Nguồn VietTimes: https://viettimes.vn/doanh-nghiep-tham-gia-mot-nua-so-nhiem-vu-khcn-gop-40-von-post208058.html