Độc đáo ngôi làng làm gốm đen truyền thống 'không bàn xoay' tại Đắk Lắk

Lặng lẽ dưới đại ngàn Chư Yang Sin, buôn Dơng Bắk là 'thánh địa' cuối cùng của dòng gốm cổ M'Nông, nơi đất sét được đánh thức bởi những đôi tay, không cần bàn xoay.

Bí thuật từ lòng đất và vũ điệu không bàn xoay

Giữa cái nắng hanh hao của vùng cao nguyên Đắk Lắk, đỉnh Chư Yang Sin hiện ra như một bức tường thành xanh thẫm, mây phủ quanh năm.

Trong bóng râm của những nếp nhà sàn tại xã Liên Sơn Lắk (xã Yang Tao, huyện Lắk cũ) chúng tôi bắt gặp những người phụ nữ M’Nông hì hụi giã đất, dùng những công cụ thô sơ "biến hình" cho đất sét.

Buôn Dơng Bắk là “thánh địa” cuối cùng của dòng gốm cổ M’Nông, đất sét được nhào từ những đôi bàn tay phụ nữ, không cần bàn xoay.

Buôn Dơng Bắk là “thánh địa” cuối cùng của dòng gốm cổ M’Nông, đất sét được nhào từ những đôi bàn tay phụ nữ, không cần bàn xoay.

Trải qua bao thăng trầm, đến nay đồng bào M’Nông ở xã Yang Tao vẫn còn giữ được nghề làm gốm thủ công hàng trăm năm tuổi. Đây là nghề mẹ truyền con nối. Phụ nữ đảm nhận các khâu làm gốm, từ khi lấy đất cho đến khi nung thành sản phẩm.

Nghệ nhân H’Phiết Uông (SN 1951, trú tại buôn Đơng Bắk, xã Yang Tao), người đã gắn bó với nghề từ thuở tóc còn xanh cho biết, trong các nhóm người M’Nông thì chỉ có nhóm M’Nông R'lăm theo nghề làm gốm. Người M’Nông R'lăm đã một thời dài làm ăn phát đạt nhờ nghề gốm, sản phầm làm ra được ưa dùng khắp khu vực Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung tìm mua.

Sản phẩm làm ra chủ yếu là các loại nồi tròn có miệng nhỏ để nấu cháo, nấu nước, sắc thuốc… hoặc nồi miệng rộng để nấu cơm và nấu thức ăn. Ngoài ra còn có chõ hấp xôi. Sau này khi nhu cầu nhiều hơn, người ta còn làm ra thêm nồi đồng, chảo rang cà phê, hủ, ché, bát, đĩa, ấm, chén, bình, thau, chậu, lọ hoa, hồ lô...

Những nghệ nhân tay nghề cao còn làm được cả những con vật như: Voi, trâu, bò, hổ, báo, rùa, hươu, nai...".

Nghệ nhân H’Phiết Uông nhìn về phía dãy núi mờ xa và kể về quy trình tìm kiếm nguyên liệu cho nghề làm gốm cổ. Từ sáng sớm, những người phụ nữ M’Nông đã dời căn nhà sàn để đi lấy nguyên liệu làm gốm. Đó là thứ đất sét sạch, dẻo, có màu nâu sẫm đặc trưng, lấy từ các ruộng dưới chân núi Chư Yang Sin. Và chỉ có đất lấy từ các ruộng của buôn Biắk ở Đắc Sang mới làm được gốm bền, đẹp.

“Chúng tôi phải lặn lội dọc các bãi bồi ven sông, đào dưới chân núi Chư Yang Sin để lấy được loại đất sét màu nâu vàng đặc trưng. Loại đất này có độ dẻo lạ kỳ và một sự "nguyên thủy" mà không nơi nào có được”, bà H’Phiết Uông kể

Sau khi đào về, đất được ủ kín bằng lá chuối, nong nia để giữ ẩm. Hàng ngày, người dân phải tưới nước như chăm sóc một sinh linh, đảm bảo đất không bị khô cứng trước khi bắt đầu quy trình chế tác.

Khác biệt hoàn toàn với gốm Bát Tràng (Hà Nội) hay gốm Bàu Trúc (Ninh Thuận cũ), gốm Yang Tao là một trong những dòng gốm hiếm hoi trên thế giới không sử dụng bàn xoay. Đây chính là điểm cốt lõi tạo nên sự bí ẩn và độc bản.

Công đoạn giã đất được thực hiện bằng chày trên mặt gỗ bằng phẳng của khúc (đế) gỗ cao khoảng 70 cm, đồng thời đế gỗ cũng chính bàn kê để tạo hình các sản phẩm gốm.

Sau khi đất sét được giã nhuyễn và loại bỏ các vật thể lớn sẽ bắt đầu tạo hình, người nghệ nhân thực hiện công đoạn gọi là "trích đất". Đây gần như là một nghi lễ tâm linh. Người làm gốm sẽ ước lượng một khối đất vừa đủ cho sản phẩm mình định hình.

Dòng gốm cổ M’Nông được làm từ loại đất đào dưới chân núi Chư Yang Sin, lọa đất này có độ dẻo lạ kỳ và một sự "nguyên thủy" mà không nơi nào có được.

Dòng gốm cổ M’Nông được làm từ loại đất đào dưới chân núi Chư Yang Sin, lọa đất này có độ dẻo lạ kỳ và một sự "nguyên thủy" mà không nơi nào có được.

Nghệ nhân H’Phiết Uông nói: “Một khi đã "trích", họ tuyệt đối không thêm hay bớt đất. Nếu đất nhiều, sản phẩm sẽ lớn; đất ít, sản phẩm sẽ nhỏ. Đó là sự thuận theo tự nhiên, là sự kết nối giữa ý nghĩ và trực giác của đôi bàn tay”.

Thay vì ngồi một chỗ và xoay bàn xoay bằng chân, những nghệ nhân M’Nông tại Dơng Bắk lại đặt khối đất lên một đế gỗ để tạo hình, quy trình này sẽ khiến đất sét được “đánh thức” bởi đôi bàn tay không bàn xoay và sự kỳ diệu của đôi chân di chuyển.

Để tạo hình tròn trịa cho những chiếc nồi, chiếc ché, họ phải đi giật lùi quanh đế gỗ. Mỗi bước đi là một lần vuốt, mỗi vòng xoay của cơ thể là một đường cong của sản phẩm. Họ dùng thanh tre vót mỏng và miếng vải ướt để mài giũa hình hài.

Nhìn họ thao tác, người ta có cảm giác như đang chứng kiến một điệu múa cổ xưa, nơi con người xoay quanh vật thể để thổi hồn vào đất.

Dùng lá vẽ hoa văn, lấy trấu làm men

Khi cốt gốm đã thành hình và khô dần, các nghệ nhân bắt đầu công đoạn trang trí. Thay vì bút vẽ hay men màu cầu kỳ, họ dùng những thứ gần gũi nhất với núi rừng: que củi, que tre, lá cây, lông nhím, thậm chí móng tay… người phụ nữ M’Nông R'lăm đều có thể tận dụng để vẽ hoa văn cho gốm.

Những đường nét khắc vạch mộc mạc về hình ảnh con voi, con rùa hay những họa tiết hình học hiện lên đầy sống động. Sau đó, họ dùng những viên đá cuội lượm dưới suối chà xát thật mạnh lên bề mặt gốm để tạo độ bóng.

Những sản phẩm của dòng gốm cổ M’Nông được tạo ra bằng việc nung lộ liên.

Những sản phẩm của dòng gốm cổ M’Nông được tạo ra bằng việc nung lộ liên.

Kỹ thuật nung gốm cũng mang đậm sắc thái cổ sơ. Không có lò nung xây gạch kín mít, gốm M’Nông được nung lộ thiên. Họ xếp gốm trên một bãi đất trống, vật nhỏ ở trong, vật lớn ở ngoài, phủ củi khô lên trên và đốt.

Ngọn lửa rực cháy giữa trời đất, khói nghi ngút quyện vào mây ngàn Chư Yang Sin. Khi gốm đạt độ đỏ rực, họ nhanh tay dùng trấu hoặc mùn cưa để "hun". Khói của trấu bám vào xương gốm, tạo nên một màu đen bóng tự nhiên, huyền bí – một màu sắc mang linh hồn của đại ngàn lửa cháy.

Nỗ lực gìn giữ di sản văn hóa

Đầu năm 2025 nghề làm gốm của người M’Nông ở Yang Tao được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Dù mang trong mình những giá trị văn hóa độc bản, làng gốm cổ Yang Tao cũng không tránh khỏi những quy luật khắc nghiệt của thời gian. Đã có lúc, tiếng bước chân đi vòng quanh đế gỗ dường như thưa thớt dần, để lại nỗi lo về sự thất truyền của một di sản hàng trăm năm tuổi.

Khi gốm Yang Tao theo chân cha tôi đi khắp vùng Tây Nguyên và miền Trung. Ngày ấy, một chiếc chén gốm có giá trị ngang với một chén gạo, một chiếc nồi lớn có thể đổi được cả bao bắp, bao đậu.

Gốm Yang Tao hiện diện trong mọi gia đình M’Nông, từ chiếc nồi nấu cơm hàng ngày đến những chiếc ché rượu cần trong các dịp lễ đâm trâu”, bà H’Phiết Uông bùi ngùi nhớ lại thời hoàng kim.

Nghề làm gốm của người M’nông R’lăm ở buôn Dơng Băk, xã Liên Sơn Lắk, tỉnh Đắk Lắk chủ yếu là do phụ nữ đảm nhiệm.

Nghề làm gốm của người M’nông R’lăm ở buôn Dơng Băk, xã Liên Sơn Lắk, tỉnh Đắk Lắk chủ yếu là do phụ nữ đảm nhiệm.

Thế nhưng, khi đồ nhựa, đồ nhôm và gốm sứ công nghiệp giá rẻ tràn ngập thị trường, gốm thủ công bắt đầu bị ghẻ lạnh. Thanh niên trong buôn không còn mặn mà với việc đi đào đất, giã đất hay đi vòng quanh đế gỗ hàng giờ đồng hồ. Cả xã Liên Sơn Lắk rộng lớn, số nghệ nhân còn giữ được nghề chỉ đếm trên đầu ngón tay, và phần lớn đều đã ở tuổi xế chiều.

"Lửa nung gốm có thể tắt, nhưng nỗi lo nghề biến mất mới là thứ khiến tôi không ngủ được", nghệ nhân H’Phiết Uông chia sẻ.

Nhận thức được nguy cơ mai một, những nghệ nhân tâm huyết nhất tại buôn Dơng Bắk đã bắt đầu thực hiện những cuộc "cách tân" âm thầm. Thay vì chỉ làm những vật dụng thô sơ như nồi nấu cá, bát ăn cơm, họ đã bắt đầu chế tác những sản phẩm mang tính nghệ thuật cao để phục vụ du lịch.

Những con voi gốm tinh xảo, những bộ ấm trà cách điệu hay những bình hoa mang hơi thở đương đại đã ra đời từ đôi bàn tay nhào nặn thô mộc.

Nghệ nhân H’Phiết Uông, một nghệ nhân tâm huyết nhất tại buôn Dơng Bắk bắt đầu thực hiện những cuộc truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ.

Nghệ nhân H’Phiết Uông, một nghệ nhân tâm huyết nhất tại buôn Dơng Bắk bắt đầu thực hiện những cuộc truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ.

Cuộc hồi sinh của gốm Yang Tao không thể thiếu sự tiếp sức từ cộng đồng và chính quyền. Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã liên tục mở các lớp truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ. Những cô gái M’Nông mười tám, đôi mươi nay đã bắt đầu tập cách "ủ đất", cách "trích đất" và học đi giật lùi quanh đế gỗ.

Nghệ nhân H’Phiết Uông không giấu được niềm vui khi thấy 20 học viên trẻ chăm chú lắng nghe mình truyền thụ bí kíp. Bà nói rằng, bà sẵn sàng dùng cả tâm huyết còn lại để dạy cho bất cứ ai muốn học, bởi với bà, đó là trách nhiệm với tổ tiên.

Hơn cả một nghề mưu sinh, dòng gốm cổ M’Nông đang được định hướng gắn liền với du lịch trải nghiệm. Du khách đến với vùng đất dưới chân núi Chư Yang Sin không chỉ để ngắm cảnh, mà còn để tự tay chạm vào đất sét, thử cảm giác xoay mình quanh đế gỗ và hồi hộp chờ đợi sản phẩm mình làm ra từ đống lửa nung lộ thiên.

Không còn là nghề chỉ để mưu sinh, dòng gốm cổ M’Nông đang được định hướng gắn liền với du lịch trải nghiệm.

Không còn là nghề chỉ để mưu sinh, dòng gốm cổ M’Nông đang được định hướng gắn liền với du lịch trải nghiệm.

Dưới chân núi Chư Yang Sin, tiếng giã đất vẫn vang lên đều đặn trong các buổi chiều tà. Làng gốm cổ Dơng Bắk hôm nay không chỉ là một địa điểm tham quan, mà là một bảo tàng sống, nơi lưu giữ những bí thuật của quá khứ. Với sự nỗ lực của những nghệ nhân như bà H’Phiết và sự tiếp nối của thế hệ trẻ, dòng gốm không bàn xoay độc đáo sẽ còn tiếp tục kể những câu chuyện về đất và người M’Nông.

Nguyễn Gia

Nguồn VTC: https://vtcnews.vn/doc-dao-ngoi-lang-lam-gom-den-truyen-thong-khong-ban-xoay-tai-dak-lak-ar1002279.html