Đổi mới mô hình SCIC - nền tảng để hình thành Quỹ đầu tư quốc gia
Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước yêu cầu tái cơ cấu toàn diện Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, tiến tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia. Đây là định hướng hoàn toàn phù hợp, bởi nếu coi vốn nhà nước là tài sản công sinh lời thì SCIC không thể chỉ dừng ở vai trò đại diện chủ sở hữu theo kiểu hành chính.
Vì sao cần “đổi vai”?
Trong nhiều năm, SCIC đã góp phần quan trọng trong tiếp nhận, đại diện chủ sở hữu và cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Nhưng bối cảnh hiện nay đặt ra một bài toán lớn hơn, không chỉ quản lý từng khoản vốn mà phải quản trị một danh mục tài sản quốc gia - nơi mỗi đồng vốn công cần được phân bổ theo ưu tiên chiến lược và được đo lường hiệu quả như một tài sản đầu tư.

Phân xưởng sản xuất tại Công ty CP Cơ khí Duyên Hải, thuộc Tổng công ty Máy và Thiết bị công nghiệp - CTCP (MIE). Ảnh: MIE
Dưới góc độ chính sách, có ít nhất 5 lực đẩy khiến SCIC phải chuyển từ “đại diện vốn” sang “nhà đầu tư quốc gia”.
Thứ nhất, nhu cầu hình thành doanh nghiệp đầu đàn. Nghị quyết số 79-NQ/TW định hướng phát triển một số tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước mạnh, quy mô lớn, vai trò dẫn dắt ở các ngành then chốt; muốn vậy phải có vốn dài hạn, quản trị hiện đại.
Thứ hai, trong cuộc đua công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, vốn nhà nước không thể “giữ chỗ” thụ động, càng không thể dàn trải. Muốn tạo năng lực tương lai, cần cơ chế đầu tư có tính toán, chấp nhận rủi ro trong giới hạn, nhưng có chuẩn đo lường và lối thoát vốn rõ ràng.
Thứ ba, yêu cầu tập trung, quay vòng, tái phân bổ nguồn lực. Nghị quyết số 79-NQ/TW chỉ hướng: tập trung nguồn lực từ cơ cấu lại vốn tại doanh nghiệp và các nguồn lực nhà nước giao khác để đầu tư vào doanh nghiệp lớn, dự án công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Nếu không có đầu mối vốn đủ năng lực, dòng tiền thoái vốn/cổ phần hóa rất dễ rơi vào vòng lặp: phân tán, ngắn hạn, thiếu kỷ luật.
Thứ tư, Nghị quyết số 79-NQ/TW nêu nhiệm vụ: SCIC phải triển khai đầu tư trực tiếp và hỗ trợ nguồn lực để doanh nghiệp nhà nước đầu tư ra nước ngoài; thực hiện mua bán, sáp nhập để tiếp cận công nghệ mới, công nghệ lõi, công nghệ và công nghiệp chiến lược. Đây là “cuộc chơi” đòi hỏi kỹ năng thẩm định, cấu trúc giao dịch, kiểm soát pháp lý xuyên biên giới, tức là năng lực nhà đầu tư đúng nghĩa.
Thứ năm, áp lực minh bạch và giám sát độc lập. Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt ra điều kiện mang tính “khung kỷ luật”: phải có cơ chế giám sát độc lập đối với quá trình chuyển giao và quản lý vốn của SCIC, bảo đảm cơ cấu lại doanh nghiệp, đầu tư vốn đúng giá thị trường, tuân thủ pháp luật. Đây chính là điểm then chốt, đổi mới mô hình không phải để tăng quyền tùy nghi, mà để tăng kỷ luật thị trường và kỷ luật giải trình.
6 trụ cột để SCIC vận hành hiệu quả
Nếu Nghị quyết số 79-NQ/TW là mệnh lệnh chính trị về hướng đi, thì thiết kế mô hình là câu chuyện của thể chế và quản trị. Một SCIC theo hướng “nhà đầu tư quốc gia” có thể đứng vững trên 6 trụ cột.
Trụ cột thứ nhất: sứ mệnh kép - lợi nhuận gắn chiến lược nhưng chiến lược phải định giá được. SCIC cần hai tầng mục tiêu rõ ràng. Tầng tài chính bảo toàn và phát triển vốn theo nguyên tắc thị trường, có chuẩn đo lường, có kỷ luật rủi ro. Tầng chiến lược thực thi ưu tiên quốc gia thông qua danh mục/tiểu quỹ chuyên biệt (công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hạ tầng then chốt…), với cơ chế bù đắp rủi ro minh bạch.
Trụ cột thứ hai: tập trung nguồn lực hình thành “đầu mối vốn” thay cho phân tán nhiệm vụ. Tập trung ở đây không phải ôm đồm, mà để SCIC làm đúng vai nhà đầu tư quốc gia, không phải “cơ quan nhận việc”.
Trụ cột thứ ba: danh mục 3 lớp - lõi, chiến lược, cơ hội để vừa chắc vừa linh hoạt. Trong đó, lớp lõi là doanh nghiệp quy mô lớn, hiệu quả cao, tạo dòng cổ tức ổn định; lớp chiến lược là công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tiêu chí kép (tài chính và tác động); lớp cơ hội M&A, tái cấu trúc, cơ hội định giá, đòi hỏi kỷ luật thoái vốn. Cấu trúc này tạo kỷ luật phân bổ vốn, đúng tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW tập trung nguồn lực để đầu tư doanh nghiệp lớn và dự án công nghệ quan trọng.
Trụ cột thứ tư: năng lực đầu tư chủ động. SCIC “mới” phải có năng lực thẩm định theo chuẩn quốc tế (tài chính, pháp lý, công nghệ, ESG, chuỗi cung ứng), và đặc biệt là quản trị sau đầu tư thúc đẩy chuẩn hóa quản trị, năng suất, công nghệ… bằng quyền cổ đông chuyên nghiệp, không can thiệp hành chính. Thực tế, quy mô hoạt động của SCIC đã đủ lớn để đặt ra yêu cầu nâng chuẩn năng lực. SCIC đang đại diện chủ sở hữu tại 112 doanh nghiệp, tổng giá trị sổ sách 56.284 tỷ đồng; năm 2025 doanh thu ước 13.408 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 11.197 tỷ đồng. Điều này nhấn mạnh càng lớn thì càng phải kỷ luật hơn, không thể vận hành theo kiểu “đại diện vốn” phân tán.
Trụ cột thứ năm: cơ chế đồng đầu tư và “cửa sổ nhanh” cho M&A công nghệ, đầu tư ra nước ngoài. Việc tiếp cận công nghệ lõi thường có khung thời gian rất hẹp, do đó cần một cơ chế phê duyệt "nhanh nhưng chặt", tách biệt với các quy trình xét duyệt ngân sách nhà nước thông thường.
Trụ cột thứ sáu: minh bạch và giám sát độc lập là điều kiện sống còn. Phải có hội đồng giám sát độc lập tách khỏi điều hành, cùng với hệ thống báo cáo danh mục tương thích với các chuẩn mực quốc tế. Điểm cần nhấn mạnh là giám sát không phải “đi kèm”, mà phải được thiết kế ngay từ đầu, để tránh vùng xám trong chuyển giao, định giá, lựa chọn dự án.
Tách bạch rõ vai trò
Muốn vận hành SCIC mới hiệu quả, trước tiên cần tách bạch vai trò của nhà nước và vai trò nhà đầu tư. Nhà nước xác định mục tiêu, giới hạn rủi ro, cơ chế giám sát; SCIC/Quỹ quyết định đầu tư theo nguyên tắc thị trường và chịu trách nhiệm giải trình. Tách bạch này giúp tránh hành chính hóa đầu tư.
Tiếp đến, phải bảo đảm kỷ luật dòng tiền. Dòng tiền vào - ra theo kỷ luật ngân sách đầu tư: vốn vào từ thoái vốn, cổ tức, chuyển giao; vốn ra theo chiến lược; khi thoái vốn, tiền quay lại quỹ để tái đầu tư hoặc nộp ngân sách theo cơ chế đã luật hóa.
Cùng với đó, kỷ luật phân bổ theo hạn mức và có “ngưỡng kích hoạt” rủi ro. Có chỉ số đo lường kép, tức đánh giá hiệu quả không chỉ bằng lợi nhuận mà bằng cả tác động chiến lược, chẳng hạn mức độ nội địa hóa chuỗi cung ứng, năng lực công nghệ…
Đổi mới mô hình SCIC không nên hiểu là “nới” cơ chế, mà là đổi hệ điều hành của vốn nhà nước từ đại diện vốn sang nhà đầu tư quốc gia; từ quản lý rời rạc sang quản trị danh mục; từ “giữ vốn” sang “làm vốn” bằng kỷ luật thị trường và kỷ luật giải trình. Nếu làm đúng, Quỹ đầu tư quốc gia sẽ trở thành cỗ máy phân bổ vốn vừa nâng hiệu quả vốn công, vừa tạo động lực để doanh nghiệp Việt Nam lớn lên, đổi mới sáng tạo và vươn ra quốc tế - đúng tinh thần phát triển kinh tế nhà nước trong giai đoạn mới Nghị quyết số 79-NQ/TW đã đặt ra.











