Đổi mới phương thức quản lý biên giới trong thời đại chuyển đổi số
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, biên giới quốc gia không chỉ là không gian địa lý cần được kiểm soát bằng lực lượng, phương tiện và các biện pháp nghiệp vụ truyền thống, mà ngày càng trở thành một không gian quản trị tổng hợp, đa chiều, nơi dữ liệu, công nghệ và năng lực kết nối có vai trò đặc biệt quan trọng. Vì vậy, đổi mới phương thức quản lý biên giới là yêu cầu khách quan, cấp thiết, góp phần xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển; đồng thời bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.

Cán bộ Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị tuyên truyền, hướng dẫn người dân tiếp cận các tiện ích chuyển đổi số tại địa bàn đơn vị đóng quân. Ảnh: Đơn vị cung cấp
Từ quản lý biên giới truyền thống đến quản trị biên giới số
Biên giới quốc gia là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và phát triển kinh tế - xã hội. Đây là nơi diễn ra sự giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia, đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp như xuất, nhập cảnh trái phép, buôn lậu, gian lận thương mại, mua bán người, tội phạm xuyên quốc gia, di cư bất hợp pháp, vận chuyển hàng cấm và các hoạt động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, an ninh quốc gia.
Trong phương thức quản lý truyền thống, việc nắm tình hình, kiểm soát người và phương tiện qua lại biên giới, tuần tra, kiểm soát địa bàn, xử lý vụ việc chủ yếu dựa vào lực lượng trực tiếp, hồ sơ giấy tờ, hệ thống thông tin phân tán và kinh nghiệm của cán bộ. Phương thức này vẫn giữ vai trò nền tảng, nhưng trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ và tính chất ngày càng xuyên quốc gia của các thách thức an ninh, đã bộc lộ một số hạn chế.
Chuyển đổi số tạo điều kiện khắc phục những hạn chế đó. Dữ liệu có thể được thu thập, chuẩn hóa, tích hợp và phân tích gần theo thời gian thực; các hệ thống giám sát được kết nối; trí tuệ nhân tạo hỗ trợ nhận diện dấu hiệu bất thường; bản đồ số trực quan hóa không gian quản lý; nền tảng số tạo thuận lợi cho chia sẻ thông tin giữa các lực lượng, địa phương và cơ quan chức năng.
Bởi vậy, vấn đề không đơn thuần là “đưa công nghệ vào quản lý biên giới”, mà quan trọng hơn là đổi mới phương thức quản lý trên nền tảng số. Nếu chỉ số hóa hồ sơ, thay giấy tờ bằng phần mềm nhưng phương thức chỉ huy, điều hành, phối hợp và xử lý công việc không thay đổi thì chưa thể tạo ra chuyển biến thực chất. Chuyển đổi số phải thúc đẩy chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang quản trị hiện đại, từ phản ứng bị động sang chủ động dự báo, từ xử lý vụ việc sang nhận diện và kiểm soát nguy cơ.
Dữ liệu phải trở thành nguồn lực quan trọng của quản lý biên giới
Trong thời đại số, dữ liệu là nguồn lực đặc biệt của quản trị quốc gia. Đối với quản lý biên giới, dữ liệu càng có ý nghĩa bởi các hoạt động quản lý đều gắn với con người, phương tiện, hàng hóa, địa bàn, thời gian và các mối quan hệ xuyên biên giới. Do đó, cần từng bước hình thành hệ sinh thái dữ liệu phục vụ quản lý biên giới, bảo đảm dữ liệu được thu thập đúng, đủ, sạch, thống nhất, cập nhật và có khả năng liên thông.
Mục tiêu không phải thu thập dữ liệu càng nhiều càng tốt, mà phải biến dữ liệu thành thông tin có giá trị phục vụ chỉ huy, điều hành và ra quyết định. Quá trình này có thể hình dung theo chuỗi: dữ liệu - thông tin - phân tích - nhận diện nguy cơ - dự báo - quyết định - hành động - cập nhật dữ liệu. Khi chuỗi vận hành liên tục, quản lý biên giới sẽ từng bước chuyển từ “biết những gì đã xảy ra” sang “hiểu những gì đang xảy ra” và “dự báo những gì có thể xảy ra”.
Cùng với đó, cần có cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, lực lượng theo đúng thẩm quyền, bảo đảm đúng người, đúng quyền, đúng mục đích và mức độ tiếp cận. Dữ liệu càng quan trọng thì yêu cầu bảo vệ dữ liệu, an toàn hệ thống và kiểm soát truy cập càng phải chặt chẽ. Vì vậy, chuyển đổi số phải gắn chặt với bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin và chủ quyền dữ liệu quốc gia.
Lấy “phòng ngừa từ sớm, từ xa” làm phương châm
Giá trị lớn của chuyển đổi số trong quản lý biên giới không chỉ là xử lý nhanh một vụ việc đã xảy ra, mà còn ở khả năng phát hiện sớm nguy cơ để chủ động phòng ngừa. Nếu phương thức truyền thống nhấn mạnh “tuần tra - phát hiện - xử lý”, thì quản trị biên giới số cần phát huy quy trình “thu thập - phân tích - dự báo - cảnh báo - phòng ngừa”.
Từ dữ liệu về xuất nhập cảnh, phương tiện, hàng hóa, địa bàn, thương mại và các vụ việc vi phạm, cơ quan chức năng có thể phân tích rủi ro, tập trung nguồn lực vào những tuyến, địa bàn, thời điểm và đối tượng có nguy cơ cao. Đây là bước chuyển từ quản lý chủ yếu bằng sự hiện diện sang kết hợp quản lý bằng năng lực nhận biết và dự báo. Tuy nhiên, dự báo bằng công nghệ phải gắn với công tác nắm tình hình cơ sở. Dữ liệu định lượng cần được bổ sung bằng thông tin thực tiễn của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Chuyển đổi số vì thế không làm giảm vai trò của cơ sở mà đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng thông tin từ cơ sở.
Quản lý biên giới hiệu quả không chỉ dựa vào công nghệ và lực lượng chuyên trách, mà còn phụ thuộc vào sự đồng thuận và tham gia của nhân dân. Đồng bào các dân tộc, cư dân khu vực biên giới là những người trực tiếp sinh sống, lao động, gắn bó với địa bàn và trong nhiều trường hợp là những người đầu tiên phát hiện dấu hiệu bất thường. Vì vậy, cần khai thác chuyển đổi số để tăng cường tương tác giữa lực lượng chức năng với nhân dân. Các nền tảng số có thể hỗ trợ phổ biến pháp luật, hướng dẫn thủ tục, tiếp nhận phản ánh, tuyên truyền về chủ quyền lãnh thổ, phòng, chống tội phạm. Khi người dân được tiếp cận dịch vụ thuận tiện, được bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, niềm tin đối với chính quyền và lực lượng chức năng được củng cố. Chuyển đổi số trong quản lý biên giới, vì thế, cũng phải là đổi mới phương thức phục vụ nhân dân.
Bảo đảm “số hóa nhưng không hình thức”
Để chuyển đổi số thực chất, cần tránh tình trạng đầu tư thiết bị nhưng thiếu kết nối; xây dựng nhiều cơ sở dữ liệu nhưng không liên thông; có phần mềm nhưng quy trình nghiệp vụ không đổi; thu thập nhiều dữ liệu nhưng thiếu năng lực phân tích; hoặc phụ thuộc quá mức vào công nghệ mà xem nhẹ con người.
Theo đó, cần tập trung hoàn thiện thể chế, quy trình và tiêu chuẩn dữ liệu; xây dựng hạ tầng số đồng bộ; phát triển năng lực phân tích dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo; đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực số; tăng cường hợp tác, chia sẻ thông tin; đồng thời đặc biệt coi trọng an ninh, an toàn hệ thống và bảo vệ dữ liệu. Hệ thống càng số hóa sâu thì yêu cầu phòng thủ, giám sát, ứng phó sự cố càng phải được đặt ra ngay từ khâu thiết kế. Mục tiêu của đổi mới phương thức quản lý biên giới không phải dựng thêm những “hàng rào” công nghệ, mà là tạo ra phương thức quản trị thông minh, chủ động và hiệu quả hơn. Một biên giới hiện đại phải đồng thời bảo đảm chủ quyền vững chắc, an ninh được giữ vững, pháp luật được tôn trọng, giao thương thuận lợi, nhân dân được phục vụ tốt và hợp tác quốc tế được mở rộng.
Trong tiến trình xây dựng Nhà nước số, xã hội số và nền kinh tế số, quản lý biên giới không thể đứng ngoài dòng chảy ấy. Biên giới số không thay thế biên giới quốc gia; công nghệ không thay thế con người; dữ liệu không thay thế bản lĩnh và trách nhiệm. Nhưng nếu được tổ chức, khai thác khoa học, công nghệ và dữ liệu sẽ trở thành những công cụ quan trọng nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ chủ quyền, giữ gìn an ninh và phục vụ nhân dân.
Vì vậy, đổi mới phương thức quản lý biên giới trong thời đại chuyển đổi số cần gắn với quá trình hiện đại hóa quản trị quốc gia và xây dựng thế trận bảo vệ Tổ quốc. Từ quản lý sang quản trị; từ phản ứng sang dự báo; từ phân tán sang liên thông; từ hồ sơ sang dữ liệu; từ “đóng” sang “kết nối có kiểm soát” - đó không chỉ là thay đổi về công nghệ, mà trước hết là đổi mới tư duy, phương pháp và tổ chức thực hiện.
Khi chuyển đổi số được đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất, quản lý chặt chẽ của Nhà nước, lấy bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia và phục vụ nhân dân làm mục tiêu, lấy dữ liệu làm nguồn lực, công nghệ làm công cụ và con người làm trung tâm, phương thức quản lý biên giới sẽ ngày càng thông minh, chủ động, linh hoạt, chính xác và hiệu quả, tạo nền tảng xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển và bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.
Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Sáu, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam
