Động lực khởi truyền từ các văn kiện Đại hội XIV của Đảng
Sự đổi mới thể hiện rõ ngay trong nội dung và hình thức, bố cục của các văn kiện trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, điều đó tạo cảm hứng và niềm tin, động lực để hiện thực hóa những mục tiêu, kế hoạch đề ra.
Đổi mới cách soạn thảo văn kiện, từ nội dung, các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến bố cục, kết cấu, văn phong... đều được thể hiện đậm nét tại các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng. Đó thực sự là nguồn cảm hứng, là động lực, sức sống mới được khởi truyền từ các văn kiện trình Đại hội, để tin tưởng hiện thực hóa những mục tiêu, kế hoạch đề ra.
Hệ thống các văn kiện trình Đại hội XIV bao gồm: Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII; Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam; Dự thảo Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011-2025) và đề xuất, định hướng sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Trong đó, Dự thảo Báo cáo chính trị tích hợp đồng bộ 3 báo cáo (Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội và Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng) tạo thành một chỉnh thể thống nhất, toàn diện, rõ trọng tâm, trọng điểm, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ triển khai.
Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ, quá trình chuẩn bị văn kiện được tiến hành công phu, nghiêm túc, chặt chẽ, khoa học, hiện đại; kế thừa tinh hoa của các kỳ đại hội trước, kiên định các hệ quan điểm mang tính nguyên tắc, đồng thời thể hiện rõ sự đổi mới mạnh mẽ tư duy về phát triển, bám sát thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan; từng nhận định, từng mục tiêu, từng giải pháp đều xuất phát từ thực tiễn.
Đặc biệt, văn kiện lần này đặt ra yêu cầu hành động: Nói đi đôi với làm; xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp; gắn trách nhiệm với kết quả; gắn đột phá với bền vững; gắn kỷ luật thực thi với sự hài lòng của nhân dân. Trong quá trình hoàn thiện văn kiện, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đặc biệt coi trọng việc phát huy trí tuệ tập thể, mở rộng dân chủ, lắng nghe sâu sắc tiếng nói của đảng viên, của nhân dân, của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, đồng bào ta ở trong và ngoài nước.

Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV ra mắt tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: TTXVN.
Không phải "câu chữ dài dòng", "lý luận hàn lâm" hay "không có gì mới" như luận điệu của các thế lực xấu, việc soạn thảo văn kiện lần này đã thể hiện rõ 5 giá trị cốt lõi:
Thứ nhất, trung thành tuyệt đối với đường lối, Cương lĩnh của Đảng, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy truyền thống nghìn năm văn hiến của dân tộc, thành quả, trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên con đường xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Thứ hai, văn kiện lần này được xây dựng theo phương châm bám sát thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, kết tinh trí tuệ tập thể và phản ánh trung thực mong muốn, nguyện vọng của nhân dân. Từng nhận định, từng mục tiêu, từng giải pháp đều được nghiên cứu kỹ, chắt lọc, xuất phát từ thực tiễn; coi hiệu quả và tính khả thi là tiêu chuẩn quan trọng.
Thứ ba, văn kiện thể hiện rõ sự đổi mới mạnh mẽ tư duy về phát triển: Xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm; thể chế hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao là nền tảng; phát triển xanh, bền vững, hiệu quả; kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu bắt buộc; hiệu quả sử dụng nguồn lực và năng suất lao động là thước đo chất lượng tăng trưởng.
Thứ tư, văn kiện đặc biệt nhấn mạnh khâu tổ chức thực hiện. Nhiều chủ trương, quyết sách đúng sẽ vẫn "nằm trên giấy" nếu thực thi chậm, thực thi kém hiệu quả hoặc bị "lệch chuẩn" trong quá trình triển khai. Vì vậy, văn kiện đặt trọng tâm vào việc thiết kế chương trình hành động, cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả; coi dữ liệu, chỉ số và phản hồi của nhân dân là một căn cứ quan trọng để điều chỉnh chính sách và xử lý trách nhiệm.
Thứ năm, văn kiện đề cao tinh thần nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; nhấn mạnh yêu cầu giữ gìn kỷ luật của Đảng, kỷ cương phép nước; kiên trì phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đồng thời, xây dựng môi trường khuyến khích đổi mới sáng tạo, kiến tạo phát triển, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, xây dựng xã hội kỷ cương, lành mạnh, văn minh, an ninh, an sinh, an toàn, phát triển.
Về chủ đề Đại hội, như Tổng Bí thư Tô Lâm đánh giá "chủ đề Đại hội XIV đòi hỏi chúng ta phải đoàn kết hơn, kỷ luật hơn, sáng tạo hơn; đồng thời phải khiêm tốn học hỏi, biết lắng nghe, biết sửa mình để hoàn thiện và tiến bộ không ngừng". Và, để đạt được các mục tiêu đề ra đến năm 2030 và 2045, Đại hội xác định rõ nhiệm vụ: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD/năm.
Để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn tới, văn kiện xác định 5 quan điểm chỉ đạo lớn. Đồng thời, Báo cáo chính trị nêu rõ 12 định hướng lớn, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược. Chương trình hành động đã cụ thể hóa các nhiệm vụ có thể triển khai thực hiện ngay. Tinh thần cốt lõi được cô đọng trong 8 nội dung quan trọng, thể hiện rõ yêu cầu: Lựa chọn đúng - triển khai nhanh - làm đến nơi đến chốn - đo lường bằng kết quả.
3 đột phá chiến lược được xác định từ Đại hội XIII có ý nghĩa cho cả giai đoạn 2021-2030, nhưng bước vào nhiệm kỳ Đại hội XIV, yêu cầu đặt ra phải làm thật mạnh, làm thật nhanh, làm đến nơi đến chốn, vì đây là những đòn bẩy quyết định để đất nước bứt phá.
Thứ nhất, đột phá về thể chế và thực thi: Hoàn thiện đồng bộ pháp luật; nâng cao chất lượng chính sách; tăng cường kỷ luật thực thi; bảo đảm mọi chủ trương đều có lộ trình, nguồn lực và cơ chế giám sát việc thực hiện. Đẩy mạnh cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền, lấy chất lượng, hiệu quả phục vụ nhân dân và doanh nghiệp làm thước đo.
Thứ hai, đột phá về nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động; tăng cường năng lực số; hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia, doanh nhân, nhà khoa học giỏi, công nhân kỹ thuật cao, đáp ứng yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước.
Thứ ba, đột phá về hạ tầng đồng bộ, hiện đại: Ưu tiên hạ tầng giao thông chiến lược, hạ tầng năng lượng, hạ tầng đô thị, hạ tầng viễn thông, đặc biệt là hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu. Phát triển hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu, mở rộng không gian phát triển theo quy hoạch tổng thể quốc gia, bảo đảm liên kết vùng, liên kết địa phương, kết nối khu vực và toàn cầu.
Đại hội xác định, 3 đột phá này có quan hệ hữu cơ. Thể chế mở đường; nhân lực quyết định tốc độ và chất lượng; hạ tầng tạo không gian và sức bật. Nếu làm đồng bộ, chúng ta sẽ tạo ra đà mới và thế mới; ngược lại nếu làm nửa vời, chúng ta sẽ tự đánh mất cơ hội.
Dấu ấn mới mẻ nữa là ở bố cục, cách hành văn, thể hiện ngay từ ngôn ngữ, câu từ. Không hề nhắc lại bằng những "hàn lâm, triết lý" mà ngôn ngữ thể hiện rất thẳng thắn, nhiều câu từ người đọc cảm nhận sự gần gũi, dễ hiểu, nhất là ở cách nêu hạn chế, khuyết điểm. Chẳng hạn, Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội nêu: "Điểm yếu lớn nhất của chúng ta là nhiều chủ trương đúng nhưng tổ chức thực hiện chưa đạt yêu cầu. Vì vậy, văn kiện lần này nhấn mạnh yêu cầu hành động; đề cao trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng cán bộ; kiên quyết khắc phục tình trạng "nói nhiều làm ít", "nói hay, làm dở", thậm chí "nói không đi đôi với làm"; thiếu kiểm tra, giám sát; đề ra mục tiêu cao nhưng triển khai chậm, hiệu quả thấp".
Khi nêu giải pháp cụ thể hóa văn kiện thành chương trình, kế hoạch với mục tiêu rõ ràng, chỉ tiêu đo lường được, thời hạn và phân công trách nhiệm cụ thể, "mọi việc phải có người chịu trách nhiệm đến cùng, không để tình trạng "cha chung không ai khóc", "chuyền trách nhiệm cho nhau". Đề cập các quyết sách chiến lược, Báo cáo nêu: "Song song với cải cách, phải xây dựng kỷ luật pháp quyền và kỷ luật thực thi. Kiên quyết khắc phục bằng được tình trạng: "Luật thì đúng mà làm thì khó", "trên nghị trường thì thông, dưới cơ sở thì vướng", "trên nóng, dưới lạnh", "nói nhiều, làm ít", "quyết sách đúng nhưng thực thi chậm", gây lãng phí nguồn lực, làm giảm niềm tin của nhân dân"...
Đọc những câu từ nêu trên, chúng ta cảm nhận rõ sức sống, sự chân thực, gần gũi, sự thẳng thắn, trách nhiệm và cầu thị. Nhiều câu tục ngữ, thành ngữ, danh ngôn được nêu ra, đó hoàn toàn không phải là những ngôn ngữ hàn lâm, lý luận, những triết lý cao xa nào mà thực sự sát thực, mang hơi thở cuộc sống, để chúng ta ý thức rõ trách nhiệm như chính mình đang bàn việc ở cơ quan, đơn vị, tổ chức mình.
"Mỗi đại biểu dự Đại hội, mỗi cán bộ, đảng viên trên cả nước, khi nghiên cứu văn kiện, hãy tự hỏi: Việc này có lợi gì cho dân? Có làm cho dân tin hơn không? Có làm cho cuộc sống của nhân dân tốt đẹp hơn không? Có làm cho đất nước giàu mạnh hơn không? Nếu câu trả lời chưa rõ, phải tiếp tục hoàn thiện, bởi mọi quyết sách chỉ có ý nghĩa khi được nhân dân đồng tình, ủng hộ và mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân" - Tổng Bí thư Tô Lâm nêu vấn đề khi trình bày Báo cáo các văn kiện trình Đại hội.












