Đưa công nghệ vào xiếc, tạo sức bật mới cho công nghiệp văn hóa
Hơn 1.200 hàng ghế khán giả tại Rạp Xiếc Trung ương liên tục được lấp đầy trong các suất diễn vở kịch xiếc “Sơn Thần Thủy Quái”. Sự trở lại của một huyền thoại dân gian gần hai thập niên được kể bằng ngôn ngữ đương đại không chỉ mang lại hiệu ứng thị giác bùng nổ, mà còn mở lối tư duy mới trong hành trình kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.

Vở kịch xiếc “Sơn Thần Thủy Quái” mang câu chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh trở lại sân khấu với diện mạo hiện đại. Ảnh: Liên đoàn Xiếc Việt Nam
Khi công nghệ trở thành “bệ phóng” cho nghệ thuật truyền thống
Công diễn từ ngày 25-9, Rạp Xiếc Trung ương liên tục đón lượng khán giả đông đảo đến với các suất diễn của vở kịch xiếc “Sơn Thần Thủy Quái”. Đây không phải lần đầu câu chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh xuất hiện trên sân khấu xiếc. Hai mươi năm trước, Rạp Xiếc Trung ương từng dàn dựng “Sơn Tinh - Thủy Tinh”, trong đó NSND Tống Toàn Thắng đảm nhận vai Sơn Tinh. Sau hai thập niên, câu chuyện trở lại, nhưng không lặp lại những gì đã có.
Lần này, núi rừng, biển cả, mưa bão, nước, ánh sáng, âm nhạc và hình ảnh số cùng tham gia vào quá trình kể chuyện. Sân khấu tròn quen thuộc của Rạp Xiếc Trung ương được cải tạo thành sân khấu nước hiện đại với hệ thống gần 300 ống phun và công nghệ thoát nước siêu tốc.
Khoảng 40 nghệ sĩ trực tiếp biểu diễn cùng đội ngũ kỹ thuật, hậu cần, tạo nên ê-kíp hơn 60 người. Các nghệ sĩ đã phối hợp với những doanh nghiệp công nghệ số như LumiShow, VietArt để xây dựng không gian đồ họa xuyên suốt tác phẩm. Âm nhạc là sự pha trộn giữa Symphonic Pop, World Music, EDM Cinematic với các nhạc cụ dân tộc.

Màn trình diễn kết hợp kỹ thuật xiếc và công nghệ sân khấu hiện đại. Ảnh: Liên đoàn Xiếc Việt Nam
Theo NSND Tống Toàn Thắng, “xiếc trước hết vẫn phải là xiếc”. Kỹ thuật, sự khổ luyện, độ chính xác, sức mạnh và lòng dũng cảm của nghệ sĩ là nền tảng không thể thay thế. Công nghệ, âm nhạc, múa, ánh sáng hay trình chiếu chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp câu chuyện được kể tốt hơn.
“Tôi không muốn xiếc Việt Nam chạy theo những gì thế giới đang làm. Tôi muốn chúng ta học cách làm nghề của thế giới, nhưng kể câu chuyện của chính mình. Đây cũng là cách để xiếc Việt Nam có thể bước ra bên ngoài biên giới, không phải bằng cách trở thành một phiên bản của sân khấu nước khác, mà bằng việc tạo ra một tiếng nói đủ rõ để khán giả nhận ra bản sắc Việt Nam”, NSND Tống Toàn Thắng chia sẻ.

Sự kết hợp giữa kỹ thuật xiếc, ánh sáng, âm nhạc và công nghệ tạo nên những màn trình diễn giàu cảm xúc. Ảnh: Liên đoàn Xiếc Việt Nam
Cách làm này cũng đặt ra yêu cầu mới với nghệ sĩ. Họ không chỉ quan tâm một động tác khó đến đâu, mà phải hiểu động tác ấy nằm ở đâu trong tổng thể tác phẩm, phục vụ câu chuyện gì, tạo cảm xúc gì và kết nối với khán giả như thế nào. Từ tư duy “biểu diễn một tiết mục”, nghệ sĩ chuyển sang tư duy “tham gia sáng tạo một tác phẩm”.
Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng nhận định, khoa học công nghệ và chuyển đổi số không phải là cuộc đua bổ sung hiệu ứng mới cho sân khấu, mà là thay đổi cách nghĩ, cách làm, cách sáng tạo nghệ thuật; dùng dữ liệu và công nghệ để tạo ngôn ngữ biểu diễn mới, kể câu chuyện theo cách mới, giúp nghệ sĩ có thêm công cụ sáng tạo.
Là một trong số những nghệ sĩ thể hiện màn đu dây trong vở kịch xiếc, theo NSƯT Thu Hương, kỹ thuật xiếc vẫn là yếu tố sống còn. Dù sân khấu thay đổi hay ứng dụng công nghệ tiên tiến, nền tảng ấy không thể thay thế. Công nghệ chỉ giúp tôn vinh, đẩy những động tác kỹ thuật lên những cao trào mới.

NSƯT Thu Hương trong phần biểu diễn. Ảnh: Liên đoàn Xiếc Việt Nam

Màn đu dây của NSƯT Thu Hương - NSƯT Thanh Tuấn tạo điểm nhấn cho vở kịch xiếc “Sơn Thần Thủy Quái”. Ảnh: Liên đoàn Xiếc Việt Nam
Trong “Sơn Thần Thủy Quái”, nghệ sĩ không đứng trước một màn hình để thực hiện những động tác được định sẵn. Họ tương tác với không gian liên tục biến đổi bởi nước, ánh sáng, hình ảnh và âm nhạc. Phía sau một màn đu dây hay khoảnh khắc nghệ sĩ bay trên không trung là hàng trăm giờ luyện tập, những lần thực hiện lại động tác và yêu cầu gần như tuyệt đối về độ chính xác.
“Để mang đến cho khán giả một tác phẩm trọn vẹn, ê-kíp sản xuất và các nghệ sĩ đã trải qua không ít gian truân, đánh đổi bằng mồ hôi, máu và nước mắt. Nhưng khi bước ra sân khấu, nhìn khán phòng chật kín, nghe những tràng vỗ tay và bắt gặp ánh mắt trân trọng của khán giả, mọi mệt mỏi, áp lực dường như tan biến. Khoảnh khắc ấy, chúng tôi hiểu rằng những nỗ lực của mình đã được đền đáp và tác phẩm thực sự chạm đến công chúng”, NSƯT Thu Hương chia sẻ.
Từ sân khấu kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo
Không dừng lại ở một hiện tượng giải trí, "Sơn Thần Thủy Quái" đặt ra bài toán về cách tiếp cận khán giả trẻ. NSND Tống Toàn Thắng chia sẻ về hướng đi sáng tạo các vở diễn có nhân vật, hình ảnh gần gũi với không gian game mà giới trẻ quen thuộc, sau đó chuyển hóa bằng ngôn ngữ xiếc. Mục tiêu không phải biến sân khấu thành trò chơi điện tử, mà là tìm “điểm chạm” để người trẻ nhận ra nghệ thuật truyền thống cũng có thể bước vào thế giới quan của họ.
Đáng chú ý hơn, thành công của vở diễn cho thấy một mô hình liên kết ba bên bền vững và hiệu quả: Nhà nước (định hướng, kiến tạo môi trường) - đơn vị nghệ thuật (chuyên môn, bản sắc văn hóa) - doanh nghiệp (công nghệ, tài chính, thị trường).

Công nghệ ánh sáng tôn vinh kỹ thuật xiếc, tạo nên những hiệu ứng thị giác ấn tượng trên sân khấu. Ảnh: Liên đoàn Xiếc Việt Nam
Một yếu tố góp phần tạo nên hiệu quả của vở diễn là hệ thống bán vé trực tuyến. Khán giả có thể chủ động tra cứu lịch diễn, lựa chọn chỗ ngồi và thanh toán nhanh chóng, thuận tiện. Từ khâu sáng tạo đến tiếp cận công chúng, công nghệ đang dần tham gia sâu hơn vào toàn bộ chuỗi giá trị của một sản phẩm nghệ thuật.
Đây cũng là bước hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Chương trình hành động số 08-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội về phát triển văn hóa Thủ đô, trong đó xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực nội sinh hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.
Đổi mới sáng tạo ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch bắt đầu từ rạp xiếc, nhà hát, bảo tàng và trường học, để đưa khoa học công nghệ và chuyển đổi số vào cuộc sống, phục vụ nhân dân, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh
Từ hiệu quả của vở diễn “Sơn Thần Thủy Quái”, câu hỏi lớn đặt ra là: Làm thế nào để nhân rộng mô hình này sang các loại hình nghệ thuật khác?
Để không dừng lại ở “cơn sốt” mang tính thời điểm, giới chuyên môn cho rằng cần sớm thiết lập cơ chế cởi mở cho phép các đơn vị nghệ thuật chủ động bắt tay cùng doanh nghiệp công nghệ. Trong đó, các bài toán về cơ chế đặt hàng, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chia sẻ bản quyền dữ liệu và hạ tầng văn hóa số phải được tháo gỡ rõ ràng. Song song với đó là bài toán đào tạo nguồn nhân lực liên ngành - những người vừa am hiểu chiều sâu nghệ thuật truyền thống, vừa nắm vững công nghệ hiện đại.
Lộ trình có thể bắt đầu từ ba bước: Thử nghiệm - hoàn thiện - nhân rộng. Nhà nước tạo cơ chế và nguồn lực để thử nghiệm; đơn vị nghệ thuật và doanh nghiệp cùng hoàn thiện sản phẩm; những mô hình chứng minh được hiệu quả tiếp tục được đầu tư, lưu diễn, chuyển giao và mở rộng sang các loại hình khác.
Từ xiếc, cách làm này có thể mở rộng sang chèo, tuồng, cải lương, múa rối, nghệ thuật dân gian, bảo tàng, di sản và nhiều không gian văn hóa khác. Khi đó, mỗi dự án không chỉ tạo ra một sản phẩm mới mà còn hướng tới hệ sinh thái sáng tạo, đưa những giá trị văn hóa Việt Nam đến gần hơn với công chúng bằng ngôn ngữ hiện đại.
