Dùng công nghệ giải bài toán ô nhiễm không khí ở đô thị
Việc kiểm soát ô nhiễm không khí không thể tiếp tục dựa vào các đánh giá cảm tính hay quản lý hành chính thuần túy, mà buộc phải chuyển sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu, công nghệ và bằng chứng khoa học.
Quản lý môi trường phải dựa trên dữ liệu cụ thể
Ngày 9/1 ô nhiễm không khí tại nhiều tỉnh thành miền Bắc Việt Nam tiếp tục gia tăng và lan rộng. Đáng chú ý có đến 4 tỉnh thành lớn được ghi nhận rơi vào mức xấu đến rất xấu, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người.
Theo dữ liệu quan trắc từ ứng dụng đo không khí của Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), sáng nay ngày 9/1 sau khi điều kiện thời tiết bất lợi kéo dài từ ngày 8/1 khiến các chất ô nhiễm khó khuếch tán, miền Bắc ghi nhận mức độ ô nhiễm tăng tại nhiều khu vực.
Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) dự báo ngày mai chất lượng không khí ở Hà Nội vẫn duy trì ở mức rất xấu. Hệ thống dự báo chất lượng không khí của Đại học Quốc gia Hà Nội cũng nhận định Hà Nội đang bước vào đợt ô nhiễm không khí đến ngày 14/1, trong đó cao điểm ô nhiễm sẽ vào ngày 11/1.
TS. Hoàng Dương Tùng – Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam cho rằng, mọi chính sách môi trường chỉ có thể hiệu quả khi được xây dựng trên cơ sở số liệu thực tiễn.
Theo TS. Tùng, hiện nay Việt Nam đã xác định được bốn nhóm nguồn gây ô nhiễm chính gồm: sản xuất công nghiệp, xây dựng, giao thông và đốt rác. Tuy nhiên, để quản lý hiệu quả, cần trả lời những câu hỏi mang tính "định danh" cụ thể: nguồn thải nằm ở đâu, thuộc địa bàn nào, phát sinh bao nhiêu tấn bụi, bao nhiêu khí thải.

Hà Nội ô nhiễm không khí kéo dài.
"Nếu không có số liệu cụ thể, chúng ta không thể xác định rõ trách nhiệm ô nhiễm đến từ nhà máy xi măng, nhiệt điện hay làng nghề. Do đó, cần chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang quản lý rủi ro dựa trên dữ liệu", TS. Hoàng Dương Tùng nhấn mạnh.
Theo TS. Tùng, giải pháp đột phá hiện nay là số hóa toàn bộ nguồn phát thải lên một bản đồ số, được cập nhật liên tục. Trên bản đồ này cần thể hiện rõ cơ sở sản xuất thuộc địa bàn nào, ngành nghề gì, quy mô sản xuất ra sao và mức độ phát thải cụ thể.
Khi kết nối bản đồ nguồn thải với hệ thống quan trắc trực tuyến, các nhà quản lý và nhà khoa học có thể nhanh chóng tính toán mức đóng góp ô nhiễm của từng nguồn. Việc quản lý cũng không thể tiếp tục theo phương thức thủ công như phát phiếu điều tra và chờ doanh nghiệp kê khai, mà cần chuyển sang báo cáo định kỳ qua các ứng dụng số.
"Khi có dữ liệu lớn và đồng bộ, trí tuệ nhân tạo có thể được ứng dụng để xây dựng kịch bản ô nhiễm, xác định rõ ô nhiễm nội tại hay do phát tán từ các địa phương lân cận theo hướng gió", TS. Tùng phân tích và khẳng định: chuyển đổi số để chuyển đổi xanh là con đường tất yếu.
Chính sách chỉ khả thi khi tác động kinh tế được lượng hóa
Ở góc độ quốc tế, ông Vũ Thái Trường – Trưởng Ban Biến đổi khí hậu, Năng lượng và Môi trường (UNDP Việt Nam) cho rằng, khoa học công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đi kèm sự đồng thuận xã hội và lộ trình phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội.
Một ví dụ điển hình là việc công khai chỉ số chất lượng không khí. Khi thông tin được cập nhật thường xuyên, người dân buộc phải đối diện với thực trạng môi trường sống, từ đó hình thành trách nhiệm cá nhân trong lựa chọn hành vi.
Tuy nhiên, để công nghệ trở thành giải pháp thực chất, cần có nguồn lực tài chính đủ mạnh và cách tiếp cận dựa trên bằng chứng. Việc mở rộng mạng lưới quan trắc có thể triển khai thông qua các giải pháp tiết kiệm chi phí như cảm biến giá rẻ, kết hợp xây dựng bản đồ số nguồn thải theo từng vùng.
Theo ông Trường, khung chính sách trong tương lai cần được xây dựng dựa trên phân tích chi phí – lợi ích cụ thể. "Chính sách chỉ khả thi khi các tác động kinh tế được lượng hóa rõ ràng, đi kèm lộ trình minh bạch cho từng ngành và từng giai đoạn", ông nhấn mạnh.
Chia sẻ kinh nghiệm triển khai thực tế, ông Vũ Hữu Liêm – Giám đốc Trung tâm Giám sát Nông nghiệp, Tài nguyên và Môi trường (Cục Viễn thám quốc gia) cho biết, đơn vị đang vận hành song song hai nhóm công nghệ chủ lực để giám sát ô nhiễm không khí tại Hà Nội.
Thứ nhất là ảnh vệ tinh độ phân giải cao và siêu cao, cho phép bao quát toàn thành phố, theo dõi các khu vực xây dựng, làng nghề và phát hiện các dấu hiệu phát thải như ống khói hay điểm đốt mở. Công nghệ viễn thám hiện nay đã đạt độ chính xác đủ cho quản lý cấp địa phương, với khả năng phân tích các ô lưới mặt đất khoảng 3 km.
Song song với đó, thiết bị bay không người lái (drone) được sử dụng để giám sát chi tiết theo thời gian thực tại các "điểm nóng" như đốt rác, đốt rơm rạ hoặc phát thải cục bộ, cung cấp dữ liệu trực tiếp phục vụ công tác kiểm tra, xử lý.
Qua triển khai, các cơ quan chức năng đã xác định 68 công trường xây dựng và 14 làng nghề tái chế nhựa, sắt thép cần theo dõi trọng điểm – những nguồn phát sinh bụi lớn nếu không được kiểm soát đúng quy định.
Mục tiêu lâu dài, theo các chuyên gia, là xây dựng hệ thống cảnh báo sớm ô nhiễm không khí, tích hợp dữ liệu từ vệ tinh, drone và hệ thống camera giao thông hiện có, hình thành bản đồ ô nhiễm thời gian thực.Cách tiếp cận này sẽ giúp cơ quan quản lý chuyển từ phản ứng bị động sang chủ động phòng ngừa, đồng thời nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường không khí cho Thủ đô.










