[E] 'Cởi trói' cơ chế, khai phóng sức sáng tạo của nhà khoa học
TS.BS. Nguyễn Viết Hải cho rằng, muốn khơi thông sức sáng tạo và tạo ra những đột phá khoa học, cần tháo gỡ rào cản cơ chế, trao quyền chủ động và tạo môi trường để nhà khoa học dám thử nghiệm, dám đổi mới.
TS.BS. Nguyễn Viết Hải cho rằng, muốn khơi thông sức sáng tạo và tạo ra những đột phá khoa học, cần tháo gỡ rào cản cơ chế, trao quyền chủ động và tạo môi trường để nhà khoa học dám thử nghiệm, dám đổi mới.
Sinh năm 1993 trong gia đình có truyền thống 5 đời làm nghề y, TS.BS. Nguyễn Viết Hải sớm lựa chọn con đường gắn bó với y học. Với anh, một công trình khoa học không chỉ có ý nghĩa khi được công bố trên các tạp chí quốc tế mà quan trọng hơn là những tri thức ấy có thể góp phần giải quyết vấn đề thực tiễn và phục vụ cộng đồng.
Quan niệm đó cũng được anh theo đuổi trong công việc nghiên cứu và giảng dạy. Bên cạnh việc tìm kiếm những hướng tiếp cận mới trong chẩn đoán, điều trị bệnh, anh mong muốn sinh viên y khoa được trang bị tư duy khoa học, biết tiếp cận và đánh giá những tiến bộ y học thay vì chỉ tiếp nhận kiến thức một chiều.
Tuy nhiên, để những người trẻ có thể đi xa trên con đường khoa học, đam mê và năng lực thôi chưa đủ. Họ cần một môi trường biết trao quyền, chấp nhận những thử nghiệm và tạo điều kiện để mỗi ý tưởng có cơ hội trở thành giá trị thực tiễn.
Trong cuộc trao đổi với Người Đưa Tin, TS.BS. Nguyễn Viết Hải – Giảng viên Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội chia sẻ về những trăn trở với môi trường nghiên cứu trong nước, trách nhiệm của người làm khoa học và kỳ vọng vào chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài theo tinh thần Kết luận số 105-KL/TW.

NĐT: Từ một sinh viên y khoa đến nghiên cứu sinh Tiến sĩ tại Trường Đại học Amsterdam (Hà Lan), hành trình nghiên cứu của anh bắt đầu như thế nào? Đâu là những hỗ trợ và điều kiện cần thiếtđã giúp anh từng bước theo đuổi con đường khoa học?
TS.BS. Nguyễn Viết Hải: Tôi tốt nghiệp Trường Đại học Y Hà Nội năm 2017. Ngay sau khi ra trường, tôi lựa chọn đi làm tại Bệnh viện Phổi Trung ương, thuộc Chương trình Chống lao Quốc gia. Do có niềm đam mê với chuyên ngành Lao và Bệnh phổi, tôi mong muốn được tiếp xúc với thực tiễn công việc càng sớm càng tốt.
Thời điểm đó, mình may mắn được tham gia một nghiên cứu rất lớn mang tên: “Điều tra dịch tễ toàn quốc bệnh lao lần thứ hai”. Sau khi cuộc điều tra hoàn thành, tôi được Chương trình Chống lao Quốc gia và Bệnh viện Phổi Trung ương tin tưởng, tạo điều kiện sử dụng bộ số liệu để thực hiện luận án Tiến sĩ.
Đây là nguồn dữ liệu đặc biệt quý giá, được xây dựng từ sự đóng góp của gần 1.000 cán bộ, nhân viên y tế trên cả nước và có sự tham gia của hơn 60.000 người.
Tôi thực sự biết ơn sự hỗ trợ này, bởi giá trị của một nguồn dữ liệu quy mô toàn quốc, được thu thập công phu với sự đóng góp của hàng nghìn con người, không thể dễ dàng đo đếm bằng tiền bạc.

Sau hai năm tham gia nghiên cứu, tôi nhận được học bổng của Hiệp hội Chống lao Hoàng gia Hà Lan để sang Đại học Amsterdam làm nghiên cứu sinh Tiến sĩ từ tháng 10/2019.
Khi đang học tại Hà Lan, đại dịch COVID-19 bùng phát. Cuối năm 2020, tôi trở về Việt Nam tham gia chống dịch theo nhiệm vụ được giao. Tôi vào Đồng Nai trong hai tháng, vừa hỗ trợ công tác phòng, chống dịch, vừa tham gia nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng thuốc kháng virus Molnupiravir.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, tôi quay lại Hà Lan tiếp tục luận án và bảo vệ Tiến sĩ vào tháng 12/2022. Trở về Việt Nam, tôi có hai năm công tác tại Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế trước khi chuyển về Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2025 để làm giảng viên.
NĐT: Trở thành Tiến sĩ ở tuổi còn khá trẻ và có cơ hội phát triển sự nghiệp trong môi trường nghiên cứu quốc tế, điều gì khiến anh quyết định trở về Việt Nam?
TS.BS. Nguyễn Viết Hải: Thú thực, thời điểm đó cơ hội ở lại làm việc và tiếp tục nghiên cứu trong môi trường quốc tế rất thuận lợi. Nhưng ngay từ khi đi học, tôi đã xác định mình sẽ trở về Việt Nam.

Tôi luôn nghĩ rằng giá trị của tri thức không chỉ nằm ở việc một người tích lũy được bao nhiêu kiến thức, có học vị hay làm việc tại một tổ chức danh tiếng nào, mà quan trọng hơn là người đó có thể sử dụng những kiến thức ấy để tạo ra giá trị ở đâu.
Tại các quốc gia phát triển, lực lượng nhà khoa học có trình độ cao đã rất đông đảo, hệ thống nghiên cứu cũng tương đối hoàn thiện. Trong khi đó, Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề thực tiễn cần những người được đào tạo bài bản tham gia giải quyết.
Nếu tôi trở về và có thể đóng góp một phần nhỏ vào việc giải quyết những vấn đề ấy, giá trị của những kiến thức được học ở nước ngoài sẽ được nhân lên rất nhiều.
Với tôi, trở về không đơn thuần là lựa chọn nơi làm việc hay sinh sống, mà là lựa chọn môi trường để tri thức của mình có thể đóng góp thiết thực nhất.
NĐT: Từng học tập, nghiên cứu và làm việc trong cả môi trường khoa học trong nước lẫn quốc tế, anh nhận thấy đâu là những khác biệt đáng chú ý về điều kiện phát triển của nhà khoa học? Nhìn từ trải nghiệm của mình, anh đánh giá thế nào về những mặt tích cực cũng như những điểm còn hạn chế trong môi trường nghiên cứu tại Việt Nam?
TS.BS. Nguyễn Viết Hải: Điểm khác biệt rõ nhất mà tôi cảm nhận được là tính tự chủ trong môi trường nghiên cứu. Ở các nước phương Tây, nghiên cứu sinh được trao quyền chủ động rất lớn trong việc xây dựng lộ trình học tập, lựa chọn môn học và sắp xếp thời gian nghiên cứu. Thay vì tuân theo một thời khóa biểu cố định, họ phải tự xác định mục tiêu và chịu trách nhiệm về tiến độ của mình.
Ngay cả các thủ tục hành chính, giấy tờ liên quan đến quá trình học tập và nghiên cứu, nghiên cứu sinh cũng phải chủ động tìm hiểu, thực hiện. Quá trình này đòi hỏi nhiều nỗ lực nhưng đồng thời giúp họ hình thành tư duy độc lập, khả năng tổ chức công việc và tinh thần chịu trách nhiệm.
Tôi cho rằng đây là những phẩm chất quan trọng đối với một nhà khoa học. Họ cần có không gian để chủ động lựa chọn hướng nghiên cứu, phát triển ý tưởng và quyết định cách tiếp cận vấn đề.

Tại Việt Nam, những năm gần đây môi trường khoa học và công nghệ đã có nhiều chuyển biến tích cực. Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ngày càng thể hiện rõ tinh thần đổi mới, hướng tới tháo gỡ rào cản cho hoạt động nghiên cứu.
Đáng chú ý là định hướng chấp nhận rủi ro, thất bại trong nghiên cứu khoa học nếu nhà khoa học tuân thủ đúng quy trình, bảo đảm liêm chính. Cùng với đó là những chính sách ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân dành cho đội ngũ này.
Tuy nhiên, thách thức lớn hiện nay là làm thế nào để những chủ trương đó thực sự đi vào cuộc sống. Trong thực tế, công tác quản lý đề tài, dự án nghiên cứu vẫn còn nặng về yêu cầu phải tạo ra kết quả thành công.
Cơ chế bảo vệ nhà khoa học trước những rủi ro khách quan chưa thực sự rõ ràng, khiến họ khó mạnh dạn theo đuổi những hướng nghiên cứu mới, có tính đột phá.
NĐT: Anh vừa nhắc đến cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu. Vì sao đây lại là một trong những điều kiện quan trọng để phát triển đội ngũ nhân tài khoa học, đặc biệt trong những lĩnh vực mũi nhọn như y tế?
TS.BS. Nguyễn Viết Hải: Nghiên cứu khoa học vốn là một quá trình khám phá những điều chưa biết, trong đó kết quả không phải lúc nào cũng có thể dự đoán trước.
Chẳng hạn khi phát triển một hoạt chất mới, một phác đồ điều trị hay công nghệ y sinh, nhà khoa học phải trải qua nhiều bước thử nghiệm, đánh giá và điều chỉnh. Không phải giả thuyết nào cũng được chứng minh, nhưng mỗi kết quả đều có thể đem lại những dữ liệu và bài học có giá trị.
Một nghiên cứu không đạt được mục tiêu ban đầu không đồng nghĩa với việc nghiên cứu đó vô ích. Kết quả này có thể giúp cộng đồng khoa học nhận diện những giới hạn của một phương pháp, loại bỏ hướng tiếp cận chưa phù hợp và tìm kiếm giải pháp khác.
Ngược lại, nếu cơ chế quản lý chỉ coi trọng những đề tài chắc chắn thành công, nhà khoa học sẽ có xu hướng lựa chọn những hướng nghiên cứu ít rủi ro, thay vì đầu tư vào các ý tưởng mới có tiềm năng tạo ra đột phá.

Từ góc độ chính sách, tôi đã từng đóng góp ý kiến tại một số diễn đàn, văn kiện của Đảng và Đoàn về việc xây dựng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ dành cho nhà khoa học trẻ, đồng thời áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.
Với cơ chế này, các nhóm nghiên cứu có thể triển khai những dự án thí điểm ở quy mô nhỏ, theo dõi kết quả, đánh giá rủi ro và hoàn thiện phương pháp trước khi mở rộng.
Tôi kỳ vọng những cơ chế như vậy sẽ giúp chuyển tinh thần khuyến khích sáng tạo thành điều kiện thực tế, để các nhà khoa học, đặc biệt là người trẻ, có đủ sự chủ động và an tâm theo đuổi những ý tưởng mới.
Bởi muốn có những công trình mang tính đột phá, chúng ta không thể chỉ yêu cầu nhà khoa học thành công mà còn phải tạo điều kiện để họ được thử nghiệm và chấp nhận những rủi ro hợp lý.

NĐT: Từ những vấn đề vừa trao đổi, theo anh đâu là rào cản lớn nhất đối với các nhà khoa học khi theo đuổi con đường nghiên cứu lâu dài và đâu là những điều kiện then chốt cần được bảo đảm để họ có thể phát huy năng lực và gắn bó với môi trường khoa học trong nước?
TS.BS. Nguyễn Viết Hải: Theo tôi, có ba vấn đề lớn là cơ chế, chính sách và chế độ đãi ngộ.
Trước hết là vấn đề thu nhập. Làm thế nào để một nhà khoa học có thể chuyên tâm nghiên cứu mà vẫn bảo đảm cuộc sống của bản thân và gia đình? Ở nhiều quốc gia phát triển, thu nhập, lương thưởng và chính sách dành cho giáo sư, nhà khoa học được xây dựng tương xứng với trình độ và đóng góp của họ.

Trong khi đó, tại Việt Nam, tiền lương trong khu vực công vẫn chủ yếu tính theo ngạch bậc và hệ số. Điều này khiến không ít nhà khoa học phải dành thêm thời gian cho những công việc bên ngoài thay vì tập trung hoàn toàn vào chuyên môn.
Nhưng đãi ngộ vật chất chưa phải tất cả. Một nhà khoa học có thể được trả lương tốt, được cấp kinh phí nghiên cứu lớn nhưng nếu vẫn phải đối mặt với thủ tục hành chính phức tạp, định mức chi tiêu cứng nhắc và cơ chế đánh giá thiếu thực tế thì rất khó phát huy năng lực.
Ngay cả ở khu vực tư nhân, đôi khi các chỉ tiêu đánh giá cũng chưa thực sự phù hợp với đặc thù khoa học. Chẳng hạn, việc yêu cầu một bài báo khoa học phải đạt tối thiểu 10 lượt trích dẫn ngay trong năm công bố là một tiêu chí rất khó khả thi. Giá trị khoa học của một công trình cần thời gian để được cộng đồng nghiên cứu tiếp nhận, kiểm chứng và trích dẫn.
Nếu áp dụng những chỉ tiêu cứng nhắc như vậy, chúng ta có thể vô tình tạo áp lực khiến nhà khoa học chạy theo thành tích thay vì tập trung vào chất lượng và giá trị thực chất của nghiên cứu.
Cuối cùng là phải xây dựng được một hệ sinh thái khoa học. Một cá nhân đơn lẻ rất khó tạo ra những đột phá lớn nếu không có sự hỗ trợ của đội ngũ cộng sự, chuyên gia hướng dẫn và các đơn vị có nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu.
Chúng ta cần kết nối chặt chẽ giữa nhà khoa học trẻ với những chuyên gia giàu kinh nghiệm theo mô hình cố vấn, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp, cơ quan nhà nước và các cơ sở y tế tham gia đặt hàng, đồng hành với nghiên cứu. Khi có sự kết nối đó, nhà khoa học sẽ biết mình đang giải quyết vấn đề gì, kết quả nghiên cứu được ứng dụng ở đâu và mang lại giá trị nào cho xã hội.
Tôi cho rằng đây mới là nền tảng để nhân tài có thể phát triển lâu dài, thay vì chỉ thu hút họ bằng những chính sách ưu đãi ban đầu.
NĐT: Kết luận số 105-KL/TW đặt ra yêu cầu thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Anh kỳ vọng điều gì khi chủ trương này được triển khai trong thực tiễn?
TS.BS. Nguyễn Viết Hải: Điều tôi kỳ vọng nhất là những chủ trương về thu hút, trọng dụng nhân tài sẽ sớm được cụ thể hóa thành những cơ chế thiết thực, để các nhà khoa học có thể cảm nhận rõ trong chính công việc nghiên cứu và cống hiến hằng ngày.
Thời gian qua, Trung ương và thành phố Hà Nội đã ban hành nhiều chính sách thu hút nhân tài với những ưu đãi đáng chú ý. Một số chương trình có mức hỗ trợ lên đến hàng tỷ đồng, thậm chí có chính sách hỗ trợ nhà ở cho các chuyên gia cam kết gắn bó lâu dài. Đây là những điều kiện vật chất quan trọng, thể hiện sự quan tâm và quyết tâm của Nhà nước trong việc xây dựng đội ngũ trí thức chất lượng cao.
Tuy nhiên, theo tôi, đãi ngộ tốt mới là một phần của chính sách thu hút nhân tài. Điều quan trọng không kém là phải xây dựng được môi trường để người tài có thể phát huy tối đa năng lực.

Một nhà khoa học có thể được mời về với vị trí tốt, thu nhập hấp dẫn, nhưng nếu hoạt động nghiên cứu vẫn gặp nhiều vướng mắc về thủ tục hành chính, kinh phí bị bó hẹp trong những định mức cứng nhắc, hay các đề tài chỉ được đánh giá dựa trên những sản phẩm thành công mà chưa có cơ chế chấp nhận rủi ro khoa học thì rất khó tạo ra những đột phá.
Vì vậy, điều các nhà khoa học thực sự mong muốn không chỉ là một vị trí công tác hay mức đãi ngộ tương xứng, mà còn là sự tin tưởng, quyền chủ động trong chuyên môn và cơ hội được trực tiếp tham gia giải quyết những vấn đề lớn, có ý nghĩa đối với đất nước.
NĐT: Ở thời điểm này, đâu là những “mối bận tâm khoa học” lớn nhất mà anh đang miệt mài tìm lời giải?
TS.BS. Nguyễn Viết Hải: Hiện tại, tôi vẫn tiếp tục triển khai các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, phối hợp với bác sĩ tại một số bệnh viện tuyến đầu. Hai hướng nghiên cứu mà tôi tập trung sâu là bệnh truyền nhiễm và đột quỵ.
Với bệnh truyền nhiễm, đây là lĩnh vực gắn bó với tôi từ những ngày đầu làm việc tại Bệnh viện Phổi Trung ương. Tôi xuất phát từ chuyên ngành Lao và Bệnh phổi nên vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho các nghiên cứu liên quan đến bệnh lao và những vấn đề y tế công cộng.
Đối với lĩnh vực đột quỵ, tôi đang hợp tác nghiên cứu với nhóm của GS.TS. Mai Duy Tôn và TS. Đào Việt Phương - Trung tâm Đột quỵ, Bệnh viện Bạch Mai. Đây là lĩnh vực có ý nghĩa thực tiễn rất lớn bởi đột quỵ đòi hỏi khả năng phát hiện, xử trí và điều trị kịp thời. Những nghiên cứu trong lĩnh vực này có thể góp phần cải thiện chất lượng chẩn đoán, điều trị và chăm sóc người bệnh.
Tôi mong muốn những nghiên cứu mình thể tạo ra bằng chứng có giá trị, hỗ trợ bác sĩ đưa ra quyết định điều trị tốt hơn và cải thiện kết quả sức khỏe cho người bệnh.
NĐT: Là một giảng viên, theo anh cần làm gì để sinh viên y khoa hôm nay không chỉ trở thành những bác sĩ giỏi mà còn được khơi dậy niềm đam mê nghiên cứu, từng bước trở thành đội ngũ nhà khoa học kế cận, góp phần tạo nên những đột phá cho nền y học Việt Nam?
TS.BS. Nguyễn Viết Hải: Tôi cho rằng trách nhiệm đầu tiên thuộc về các trường đại học và đội ngũ giảng viên. Chúng ta cần đào tạo những người thầy thuốc không chỉ giỏi y thuật, sâu y lý, sáng y đức mà còn có tư duy khoa học, khả năng tiếp cận và đánh giá những tiến bộ y học mới.
Một bác sĩ lâm sàng không nhất thiết phải trở thành một nhà nghiên cứu xuất sắc. Tôi không đồng tình với quan điểm rằng tất cả bác sĩ đều bắt buộc phải trực tiếp làm nghiên cứu khoa học. Điều quan trọng trước hết là bác sĩ phải có tay nghề vững vàng, có năng lực chẩn đoán và điều trị tốt.
Tuy nhiên, một bác sĩ không biết cách đọc, hiểu và thẩm định các công trình khoa học, không biết cập nhật những bằng chứng y khoa mới của thế giới để vận dụng vào điều trị thì đó là một thiếu sót rất lớn.

Vì vậy, trong quá trình đào tạo đại học và sau đại học, sinh viên y khoa cần được trang bị chắc chắn kiến thức về phương pháp nghiên cứu khoa học. Mục đích không chỉ để các em có thể tự thực hiện một đề tài mà quan trọng hơn là biết đánh giá chất lượng bằng chứng y khoa, phân biệt đâu là nghiên cứu đáng tin cậy, đâu là thông tin chưa được kiểm chứng.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số phát triển nhanh, yêu cầu này càng trở nên quan trọng. Công nghệ có thể hỗ trợ bác sĩ trong nhiều khâu, từ phân tích dữ liệu, hỗ trợ chẩn đoán đến cập nhật thông tin chuyên môn. Nhưng người thầy thuốc vẫn cần có nền tảng kiến thức và tư duy phản biện để đánh giá tính chính xác, mức độ phù hợp của thông tin trước khi áp dụng cho người bệnh.
Tôi cũng nhận thấy sinh viên y khoa hiện nay có khả năng hội nhập quốc tế và tiếp cận nghiên cứu tốt hơn nhiều so với thế hệ trước. Các em có nhiều sân chơi học thuật quốc tế, được tiếp xúc sớm với những lĩnh vực mới và có điều kiện giao lưu với sinh viên, nhà khoa học từ nhiều quốc gia.
Đây là tín hiệu rất đáng mừng. Vấn đề tiếp theo là làm thế nào để những người trẻ có năng lực ấy tiếp tục được phát triển và có môi trường phù hợp để cống hiến cho nền y tế nước nhà.
NĐT: Xin trân trọng cảm ơn sự chia sẻ của anh!


