El Nino duy trì cường độ rất mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến thời tiết cuối năm
Đợt khí hậu cực đoan khi El Nino rất mạnh dự kiến làm nhiệt độ trung bình toàn quốc tăng cao, lượng mưa sụt giảm.
Lượng mưa thấp, khí hậu chịu nhiệt cao ở nhiều tỉnh thành
Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia (Cục Khí tượng Thủy văn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường), dự báo xu thế khí hậu trong thời kỳ từ nay đến 10/11/2026, nhiệt độ trung bình trên toàn quốc phổ biến cao hơn so với trung bình nhiều năm từ 1,0-2,0 độ C; trong đó nhiệt độ trung bình tại Bắc Bộ và khu vực Thanh Hóa – thành phố Huế phổ biến cao hơn 1,5-2,5 độ C, có nơi cao hơn.
Trong tháng 10 và tháng 11/2026, lượng mưa được dự báo tại khu vực vùng núi Bắc Bộ, Nam Bộ và tỉnh Lâm Đồng phổ biến xấp xỉ so với trung bình nhiều năm, có nơi cao hơn 10-20% so với trung bình nhiều năm cùng thời kỳ; các khu vực còn lại phổ biến thấp hơn từ 20-40% trung bình nhiều năm, riêng các tỉnh từ Hà Tĩnh đến Quảng Ngãi có nơi thấp hơn 40-50% trung bình nhiều năm cùng thời kỳ.

El Nino cực mạnh tác động trực tiếp đến thời tiết cuối năm. Ảnh: Tuấn Anh
Như vậy, nhiều khu vực có khả năng thiếu mưa trong nửa cuối tháng 10 và tháng 11/2026, theo dự báo, duy nhất chỉ có khu vực Trung Bộ có khả năng có mưa vừa, mưa to diện rộng tập trung nhiều hơn.
Nhiệt độ cao hơn trung bình nhiều năm cùng với xu hướng thiếu hụt mưa tại nhiều khu vực là những yếu tố cần được theo dõi trong giai đoạn cuối năm 2026. Tại các địa phương có lượng mưa thấp kéo dài, nguy cơ suy giảm nguồn nước có thể gia tăng; trong khi nền nhiệt cao cũng có thể làm tăng nhu cầu sử dụng nước và năng lượng.
Theo Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển, hiện tượng El Nino đang duy trì cường độ mạnh đến rất mạnh và có khả năng đạt đỉnh vào cuối năm 2026. Đợt khí hậu cực đoan này dự kiến làm nhiệt độ trung bình toàn quốc tăng cao, lượng mưa sụt giảm tại khu vực Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, đồng thời đặt ra cảnh báo về nguy cơ hạn hán nghiêm trọng trong mùa khô tới.
Theo các trung tâm dự báo khí hậu quốc tế và trong nước, điều kiện khí quyển - đại dương đang ở trạng thái El Nino có cường độ mạnh đến rất mạnh, với xác suất duy trì trên 90%. Hiện tượng này có khả năng đạt đỉnh vào các tháng từ 10 đến 12-2026.
Trong 3 tháng cuối năm, nhiệt độ trung bình trên toàn quốc có xu thế cao hơn trung bình nhiều năm (TBNN). Mô hình thống kê của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển chỉ ra xác suất nhiệt độ cao hơn TBNN đạt từ 80-100%, với mức chênh lệch vượt 1,50C ở nhiều nơi. Bên cạnh đó, gió mùa mùa đông có khả năng bắt đầu muộn và hoạt động yếu hơn bình thường, khiến số ngày rét đậm, rét hại thấp hơn mức TBNN. Tổng lượng mưa trong quý IV-2026 có sự phân hóa rõ rệt giữa các vùng miền trên cả nước: Khu vực Bắc Bộ tổng lượng mưa duy trì ở mức xấp xỉ đến cao hơn TBNN. Khu vực Trung Bộ lượng mưa có xu hướng xấp xỉ đến thấp hơn TBNN; Bắc Trung Bộ và Tây Nam Bộ ghi nhận mức thiếu hụt sâu từ 200mm đến trên 600mm. Tây Nguyên và Nam Bộ tổng lượng mưa thấp hơn TBNN, mùa mưa có khả năng kết thúc sớm hơn.
Cũng trong 3 tháng cuối năm, số lượng xoáy thuận nhiệt đới hoạt động trên biển Đông và ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền Việt Nam dự báo ở mức thấp hơn TBNN. Theo thống kê giai đoạn trước, TBNN thường ghi nhận 4-5 cơn trên biển Đông và 2-3 cơn ảnh hưởng đến Việt Nam. Tuy nhiên, các cơ quan khí tượng vẫn lưu ý người dân cần đề phòng các đợt mưa lớn có thể gây lũ và ngập lụt tại khu vực Trung Bộ.
Dưới tác động của El Nino duy trì đến mùa xuân năm 2027, cơ quan chuyên môn cảnh báo khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ đối mặt với nguy cơ xảy ra tình trạng hạn hán nghiêm trọng trên diện rộng trong mùa khô 2026-2027.
3 kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam
Theo TS. Trần Thanh Thủy, Trưởng phòng Khoa học, Đào tạo và Hợp tác quốc tế (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển), Kịch bản biến đổi khí hậu phiên bản năm 2025 được cập nhật theo các kịch bản chia sẻ kinh tế - xã hội (Shared Socioeconomic Pathways - SSP) do Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) đưa ra. Đây là tập hợp các giả định khoa học về phát triển kinh tế, gia tăng dân số, sử dụng năng lượng, chuyển dịch công nghệ và ban hành chính sách khí hậu trong tương lai.
Có 3 kịch bản chính được lựa chọn cho Việt Nam.
Kịch bản thấp SSP1-2.6 là kịch bản phát triển bền vững và lạc quan nhất, hướng tới mục tiêu đạt phát thải ròng bằng "0" (Net-Zero).
Kịch bản trung bình SSP2-4.5 là kịch bản phù hợp nhất với xu thế và các chính sách giảm nhẹ phát thải khí nhà kính toàn cầu hiện hành.
Kịch bản cao SSP3-7.0 là kịch bản cao nhất hợp lý, khi không bổ sung thêm các chính sách ứng phó khí hậu mới.
Cùng với việc lựa chọn 3 kịch bản phát triển kinh tế xã hội, các nhà khoa học còn dựa vào các ngưỡng ấm lên toàn cầu (GWLs) so với thời kỳ tiền công nghiệp (1850-1900) để xác định các rủi ro về khí hậu.
Theo TS. Trần Thanh Thủy, Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) ghi nhận nhiệt độ trung bình toàn cầu đã có những thời điểm chạm mốc 1,5 độ C trong giai đoạn 2024-2025. Nếu mức nhiệt này duy trì dài hạn thay vì chỉ xuất hiện nhất thời, các đợt nắng nóng kỷ lục tương tự như những thảm họa gây thiệt hại nặng nề tại châu Âu vừa qua sẽ xuất hiện với tần suất dày hơn.
Trước thực tế đó, ưu điểm lớn nhất của kịch bản theo các GWL là không phụ thuộc vào mốc năm cụ thể, mà tập trung trực tiếp vào các ngưỡng kích hoạt rủi ro. Cách tiếp cận này tạo tiền đề vững chắc để các nhà quản lý xây dựng chiến lược thích ứng động theo từng mức tăng nhiệt của hệ thống khí hậu.
Theo đó, khi mức tăng nhiệt độ dưới ngưỡng 1,5 độ C, các giải pháp sẽ ưu tiên cho thích ứng mềm thông qua chuyển đổi sinh kế, áp dụng nông nghiệp thông minh và các biện pháp phi công trình.
Khi nhiệt độ tăng tiệm cận hoặc vượt ngưỡng 2 độ C, hệ thống sẽ kích hoạt ngay các giải pháp hạ tầng kiên cố. Do đó, khuyến cáo chung cho công tác quy hoạch là các hành động ứng phó là cần chủ động chuẩn bị sẵn sàng nguồn lực để tiếp cận ngay với ngưỡng nóng lên toàn cầu 2 độ C. Còn đến vượt ngưỡng 3-4 độ C, nguy cơ thảm họa sẽ xảy ra. Đây chính là mức tăng nhiệt độ khi thế giới không áp dụng các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu.
Nhiệt độ tối cao có xu thế gia tăng. Ở ngưỡng nóng lên toàn cầu 1,5 độ C, mức tăng phổ biến từ 1-1,5 độ C. Nhưng khi nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên 4 độ C, mức tăng có thể đạt 3-4 độ C.
Số ngày nắng nóng (trên 35 độ C) tăng mạnh với mức tăng 10-30 ngày ở ngưỡng 1,5 độ C, và tăng đến 30-50 ngày với ngưỡng 3-4 độ C, vượt 50 ngày/năm tại nhiều khu vực Trung Bộ và Nam Bộ. Ngược lại, rét đậm, rét hại giảm mạnh. Số ngày rét đậm, rét hại tại Bắc Bộ giảm 20-30 ngày ở ngưỡng nóng lên 3 độ C; và giảm 30-40 ngày ở ngưỡng nóng lên 4 độ C.
Với các ngưỡng nóng lên toàn cầu từ 1,5-4 độ C, hạn hán có xu hướng gia tăng đáng kể tại Bắc Bộ cả về tần suất và cường độ, trong khi khu vực phía Nam có xu thế giảm nhẹ, làm nổi bật sự phân hóa không gian của tác động biến đổi khí hậu đối với hạn hán ở Việt Nam.
