Gánh gần 17.900 tỷ đồng nợ vay, TTC AgriS chịu chi phí lãi vay hơn 4,2 tỷ đồng/ngày
TTC AgriS ghi nhận dư nợ vay gần 17.900 tỷ đồng, chi phí lãi vay hơn 1.550 tỷ đồng trong niên độ 2025–2026. Trong khi đó, doanh thu giảm 6,1%, dòng tiền kinh doanh vẫn âm.
Mảng nông sản tăng gần 7 lần, lợi nhuận vẫn chịu sức ép
Theo số liệu báo cáo tài chính hợp nhất niên độ 2025 – 2026 sau soát xét, CTCP Thành Thành Công - Biên Hòa (TTC AgriS, mã: SBT) ghi nhận doanh thu thuần đạt 26.732,8 tỷ đồng, giảm 6,1% so với niên độ trước. Trong cơ cấu doanh thu, mảng đường tiếp tục đóng vai trò chủ lực với 21.868,2 tỷ đồng, giảm so với mức 26.231,4 tỷ đồng cùng kỳ.
Ở chiều ngược lại, mảng nông sản ghi nhận mức tăng trưởng đáng chú ý. Doanh thu lĩnh vực này đạt 2.817,1 tỷ đồng, gấp gần 7 lần mức 404,5 tỷ đồng của niên độ trước. Diễn biến này cho thấy quy mô đóng góp của mảng nông sản đã tăng lên đáng kể, dù mảng đường vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của doanh nghiệp. Lợi nhuận gộp đạt 2.674 tỷ đồng, giảm 10,4% so với niên độ trước

Tình hình làm ăn của SBT trong kỳ tài chính 2025-2026.
Trong kỳ, doanh thu hoạt động tài chính đạt 1.482,4 tỷ đồng, tăng 16,7%. Tuy nhiên, chi phí tài chính cũng tăng 13,8%, lên 2.070 tỷ đồng. Trong đó, chi phí lãi vay chiếm 1.552,7 tỷ đồng, tương đương bình quân khoảng 4,25 tỷ đồng mỗi ngày.
Một điểm tích cực là phần lãi từ các công ty liên kết tăng mạnh, từ 33,7 tỷ đồng lên 300,2 tỷ đồng. Chi phí bán hàng tăng lên 946,9 tỷ đồng, trong khi chi phí quản lý doanh nghiệp giảm nhẹ còn 738,7 tỷ đồng.
Kết thúc niên độ, lợi nhuận trước thuế đạt 911,1 tỷ đồng, giảm 4,1%. Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp đạt 846,4 tỷ đồng, tăng 1,4% so với mức 834,5 tỷ đồng của niên độ trước. Trong đó, lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 842,1 tỷ đồng.
Tổng tài sản gần 37.800 tỷ đồng, dư nợ vay hơn 17.850 tỷ đồng
Tại ngày 30/6/2026, tổng tài sản hợp nhất của TTC AgriS đạt 37.798,6 tỷ đồng, tăng 15,7%, tương ứng tăng 5.119,5 tỷ đồng so với đầu niên độ.
Tài sản ngắn hạn đạt 23.686 tỷ đồng, chiếm 62,7% tổng tài sản. Trong đó, tiền và các khoản tương đương tiền đạt 2.003,1 tỷ đồng. Đầu tư tài chính ngắn hạn tăng lên 7.066,2 tỷ đồng, chủ yếu là tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn 6.303 tỷ đồng.
Các khoản phải thu ngắn hạn đạt 10.203 tỷ đồng, trong khi hàng tồn kho ở mức 4.179,4 tỷ đồng.
Ở nhóm tài sản dài hạn, khoản đầu tư vào công ty liên kết đạt 6.045 tỷ đồng.
Về nguồn vốn, tổng nợ phải trả tại ngày 30/6/2026 đạt 25.338,2 tỷ đồng, tương đương khoảng 67% tổng nguồn vốn. Vốn chủ sở hữu đạt 12.460,4 tỷ đồng, tăng 14,8% so với đầu kỳ.
Vốn điều lệ tăng thêm 918,7 tỷ đồng, lên 9.280,3 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động (ESOP) và chia cổ tức bằng cổ phiếu.
Tại thời điểm cuối niên độ, tổng dư nợ vay, bao gồm các khoản vay ngắn hạn, dài hạn và trái phiếu, đạt 17.851,4 tỷ đồng, tăng 938,4 tỷ đồng, tương đương 5,55% so với mức 16.913 tỷ đồng đầu kỳ.
Theo cơ cấu kỳ hạn, nợ vay ngắn hạn ở mức 11.925,2 tỷ đồng, chiếm 66,8% tổng dư nợ tài chính. Phần dài hạn đạt 5.926,2 tỷ đồng, tương ứng 33,2%.
Trong nhóm nợ ngắn hạn, vay ngắn hạn ngân hàng đạt 8.098,9 tỷ đồng. Ngoài ra, doanh nghiệp có 2.235,1 tỷ đồng vay dài hạn đến hạn trả, 984,1 tỷ đồng trái phiếu thường dài hạn đến hạn trả, 498,6 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi đến hạn trả và 108,5 tỷ đồng nợ thuê tài chính cùng các khoản vay khác ngắn hạn.
Ở nhóm dài hạn, vay ngân hàng đạt 3.505 tỷ đồng; trái phiếu thường dài hạn đạt 1.193,8 tỷ đồng; trái phiếu chuyển đổi dài hạn đạt 988,7 tỷ đồng; nợ thuê tài chính dài hạn và các khoản vay khác đạt 238,7 tỷ đồng.
Xét theo kênh huy động vốn, dư nợ vay ngân hàng đạt 13.838,9 tỷ đồng, chiếm khoảng 77,5% tổng dư nợ tài chính. Các chủ nợ được ghi nhận gồm First Commercial Bank với khoảng 2.363,8 tỷ đồng, BIDV với 2.078,5 tỷ đồng, E.SUN Bank với 1.297 tỷ đồng, ING Bank với 1.058,4 tỷ đồng, Mizuho Bank với 847,5 tỷ đồng, DEG với 649 tỷ đồng và UOB với 473,2 tỷ đồng.
Dư nợ trái phiếu đạt 3.665,1 tỷ đồng, chiếm khoảng 20,5% tổng dư nợ tài chính. Trong đó, trái phiếu chuyển đổi đạt 1.487,2 tỷ đồng, gồm 498,6 tỷ đồng đến hạn trả trong ngắn hạn và 988,7 tỷ đồng dài hạn. Theo Báo cáo tài chính, trái phiếu chuyển đổi này có lãi suất 9,5%/năm.
Trái phiếu thường phát hành riêng lẻ và ra công chúng có tổng dư nợ 2.177,9 tỷ đồng, gồm 984,1 tỷ đồng đến hạn trả và 1.193,8 tỷ đồng dài hạn. Lãi suất được mô tả là thả nổi hoặc cố định trong khoảng 3,5 - 4,95% cộng lãi suất tham chiếu.
Ngoài ra, doanh nghiệp có 236,6 tỷ đồng nợ thuê tài chính và 110,7 tỷ đồng vay từ các đối tác khác, trong đó có khoản vay bằng USD từ Dole Asia Holding Pte. Ltd.
Kết thúc niên độ 2025–2026 SBT có vốn điều lệ đạt hơn 9.280 tỷ đồng. Trong đó, Công ty CP Đầu tư Thành Thành Công sở hữu 137,74 triệu cổ phiếu SBT, tương ứng 14,84% tổng số cổ phiếu, giảm so với mức 183,23 triệu cổ phiếu, tương đương 21,91% tại đầu niên độ. Ngược lại, bà Đặng Huỳnh Ức My, Chủ tịch HĐQT SBT, nâng lượng cổ phiếu nắm giữ từ 80,31 triệu đơn vị, tương ứng 9,60%, lên gần 129,24 triệu cổ phiếu, tương đương 13,93%.
Đáng chú ý, Legendary Venture Fund 1, cổ đông từng nắm giữ 138,31 triệu cổ phiếu SBT, tương ứng 16,54% vốn tại ngày 1/7/2025, không còn được liệt kê riêng trong bảng cơ cấu cổ đông lớn tại thời điểm cuối niên độ.
Dòng tiền kinh doanh vẫn âm, áp lực trả lãi vay lớn
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của TTC AgriS trong niên độ 2025 - 2026 âm 134,5 tỷ đồng, cải thiện đáng kể so với mức âm 605,9 tỷ đồng của niên độ trước. Dù mức thâm hụt đã thu hẹp, dòng tiền kinh doanh chưa chuyển sang trạng thái dương.
Các khoản phải thu và nhu cầu vốn lưu động tiếp tục là những yếu tố cần theo dõi khi đánh giá khả năng chuyển hóa doanh thu, lợi nhuận thành tiền thực tế của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chi phí lãi vay 1.552,7 tỷ đồng tạo áp lực đáng kể lên dòng tiền.
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư âm 3.194,7 tỷ đồng. Theo dữ liệu, diễn biến này gắn với việc doanh nghiệp gia tăng tiền gửi có kỳ hạn, đầu tư mở rộng tài sản và góp vốn. Trong khi đó, dòng tiền từ hoạt động tài chính dương 1.859,3 tỷ đồng, nhờ nguồn thu từ phát hành cổ phiếu ESOP, phát hành trái phiếu chuyển đổi và huy động vốn vay. Riêng tiền thu từ phát hành cổ phiếu ESOP được ghi nhận ở mức 1.056,7 tỷ đồng.
Với dư khoản nợ vay 17.851,4 tỷ đồng, quy mô nợ tài chính của TTC AgriS tương đương khoảng 47,2% tổng tài sản và 1,43 lần vốn chủ sở hữu. Cơ cấu dư nợ nghiêng về ngắn hạn khiến doanh nghiệp cần duy trì khả năng tiếp cận các hạn mức tín dụng và quản trị chặt chẽ lịch đáo hạn.
Ở chiều tích cực, tổng tài sản và vốn chủ sở hữu đều tăng, lượng tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn được mở rộng, còn dòng tiền kinh doanh âm đã thu hẹp so với niên độ trước. Mảng nông sản cũng ghi nhận mức tăng doanh thu đáng kể, góp phần đa dạng hóa nguồn thu bên cạnh hoạt động đường truyền thống.
TTC AgriS thúc đẩy ESG, hướng tới Net Zero năm 2035
TTC AgriS (mã chứng khoán: SBT) định hướng phát triển nông nghiệp xanh thông qua sử dụng năng lượng tái tạo, tái chế phụ phẩm, giảm phát thải và mở rộng vùng nguyên liệu bền vững. Doanh nghiệp đặt mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) trên toàn chuỗi giá trị sản xuất vào năm 2035. Một trong những sáng kiến được công bố là chương trình “10 triệu cây xanh – Kiến tạo tương lai xanh”, triển khai từ năm 2023 đến năm 2030.
Một số dấu mốc đáng chú ý:
Năng lượng tái tạo: Trong niên độ 2023–2024, doanh nghiệp có 25 hệ thống điện mặt trời với tổng công suất lắp đặt khoảng 21,46 MWp. Công ty cũng đăng ký chứng nhận I-REC cho các dự án điện mặt trời và 4 nhà máy điện sinh khối sử dụng bã mía làm nhiên liệu.
Kinh tế tuần hoàn: Bã mía được sử dụng làm nhiên liệu sinh khối; bùn, tro và các phụ phẩm nông nghiệp được tận dụng để sản xuất phân hữu cơ, góp phần giảm chất thải và gia tăng giá trị chuỗi sản xuất.
Nông nghiệp bền vững: Trong niên độ 2023–2024, TTC AgriS áp dụng tiêu chuẩn Bonsucro tại các nông trường mía ở Tây Ninh, với tổng diện tích được chứng nhận đạt 1.580 ha.
Vận hành xanh: Tháng 7/2026, Nhà máy TTCS AgriS tại Tây Ninh được công bố đạt chứng nhận công trình xanh LEED Gold; lễ trao chứng nhận diễn ra ngày 16/9/2026. Tiêu chuẩn này đánh giá hiệu quả sử dụng năng lượng, nước, tài nguyên, quản lý chất thải và chất lượng môi trường trong nhà.
Minh bạch ESG: Theo doanh nghiệp, báo cáo phát triển bền vững tham chiếu các tiêu chuẩn GRI, ESRS, IFC Performance Standards và 17 Mục tiêu Phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc; một số chỉ tiêu ESG trọng yếu được Deloitte Việt Nam thực hiện đảm bảo có giới hạn.

