Ghi nhận chuyển biến tích cực trong chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững SDG 10.7.1

Trong việc quản lý các vấn đề về lao động di cư quốc tế của Việt Nam, chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững SDG 10.7.1 đóng một vai trò quan trọng, góp phần tạo thu nhập và phát triển kinh tế-xã hội, nhất là có ý nghĩa trong thu thập dữ liệu quốc tế của Việt Nam.

(Ảnh có yếu tố AI).

(Ảnh có yếu tố AI).

Đáng chú ý, việc xây dựng và sử dụng hệ thống dữ liệu thống kê đầy đủ, tin cậy và kịp thời phục vụ theo dõi di cư lao động tiếp tục có chuyển biến tích cực với việc Việt Nam mới đây đã công bố chính thức Báo cáo “Phân tích chuyên sâu về chi phí do người lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoài - Chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững 10.7.1”.

Nhân dịp này, phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi với bà Đỗ Thị Ngọc, Phó Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính).

Phóng viên: Nếu tính quá trình triển khai từ năm 2021 đến nay, từ phía Cục Thống kê, đơn vị triển khai chính dự án về thu thập xử lý thông tin về chỉ tiêu thống kê 10.7.1, bà có đánh giá như thế nào về tiến trình và kết quả thực thi?

Bà Đỗ Thị Ngọc: So với năm 2021, kỳ lần này (2026), ngoài việc lồng ghép dữ liệu với các thông số từ cuộc điều tra lao động việc làm hằng năm thì chúng tôi có điều tra chuyên sâu để biết nắm bắt thêm về cơ cấu chi phí mà người lao động phải chi trả, cùng khó khăn trong quá trình lao động gặp phải khi lao động ở nước ngoài cũng như khi quay trở lại, hồi hương và hòa nhập trở lại thị trường lao động tại Việt Nam.

Đáng chú ý, việc công bố Báo cáo “Phân tích chuyên sâu về chi phí do người lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoài - Chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững SDG 10.7.1” cũng chính là sự thể hiện cam kết của Việt Nam đối với chỉ tiêu trên theo cam kết cứ 5 năm công bố một lần và có thêm các chỉ số chuyên sâu về chỉ tiêu này.

Phóng viên: Vậy về phía Cục Thống kê, đơn vị có những thuận lợi và thách thức gì khi triển khai nội dung này?

Bà Đỗ Thị Ngọc: Trước hết, về thuận lợi, nước ta đã điều tra thường xuyên về chỉ tiêu này trong nội dung liên quan tới điều tra lao động việc làm. Tuy nhiên, vẫn không tránh khỏi khó khăn riêng khi triển khai điều tra chuyên sâu. Với hướng đó, chúng ta phải tiếp cận đối với những người lao động đã hồi hương và có quá trình tham gia lao động ở nước ngoài trong 3 năm vừa qua.

Theo đó, cần tiếp cận tới yếu tố chi phí thường xuyên để mở rộng mẫu khảo sát, thống kê. Để tính riêng mẫu biểu khảo sát chuyên sâu riêng này, hiện nay, chúng ta chưa có mà chủ yếu dựa vào sự hỗ trợ của các đối tác hợp tác phát triển, trước hết là Tổ chức di cư quốc tế (IOM).

(Ảnh: HNV)

(Ảnh: HNV)

Phóng viên: Bà có thể chia sẻ những kết quả cụ thể có được từ quá trình trên, thưa bà?

Bà Đỗ Thị Ngọc: Quá trình khảo sát, thống kê cho thấy, chi phí bình quân người lao động di cư chi trả để có việc làm ở nước ngoài giảm 23,8%, từ 164,9 triệu đồng năm 2021 xuống còn 125,7 triệu đồng năm 2025. Ngoài ra, thu nhập bình quân trong tháng làm việc đầu tiên ở nước ngoài tăng 25,4%, từ 22,4 triệu đồng lên 28,1 triệu đồng.

Theo đó, chỉ tiêu phát triển bền vững SDG 10.7.1 phản ánh tỷ lệ giữa tổng chi phí do người lao động chi trả để làm việc ở nước ngoài và thu nhập trong tháng làm việc đầu tiên ở nơi đến. Điều này có nghĩa là, năm 2025, chi phí bình quân để có được việc làm ở nước ngoài tương đương khoảng 4,5 tháng thu nhập, giảm so với mức 7,4 tháng vào năm 2021.

Phóng viên: Vâng, vậy đối với mức giảm như trên, bà có đánh giá cụ thể gì. Theo bà, mặc dù chi phí đã giảm nhưng mức giảm này liệu vẫn còn cao so với thực tế thu nhập của người lao động hay không?

Bà Đỗ Thị Ngọc: Thực ra, qua kết quả này, chúng ta cũng thấy rằng, chính sách hỗ trợ lao động Việt Nam xuất ngoại cùng các chính sách về di cư của Việt Nam cũng đã phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, chính sách đó vẫn chưa được ổn định và đồng đều giữa các nước mà lao động Việt Nam đến cũng như giữa các nhóm đối tượng lao động.

Phó Cục trưởng Cục Thống kê Đỗ Thị Ngọc. (Ảnh: HNV)

Phó Cục trưởng Cục Thống kê Đỗ Thị Ngọc. (Ảnh: HNV)

Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy rằng, có tới gần 53% người lao động phải trả cho bên phí môi giới hoặc một số các tổ chức để được tuyển dụng lao động sang nước ngoài thì vẫn là một con số khá cao. Ngoài ra, gần 54% số người được khảo sát cho rằng họ vẫn đang phải tiếp cận nguồn vay vốn để chi trả khoản chi trên cũng vẫn là một thách thức không nhỏ trong quá trình triển khai chính sách.

Thiết nghĩ, đã đến lúc, cần phải thu thập từ kênh chính thức về tín dụng cùng các kênh tuyển dụng chính thức nhiều hơn đồng thời phải không ngừng tăng cường tính minh bạch về các chi phí mà người lao động phải chi trả khi sang nước ngoài lao động.

Phóng viên: Thưa bà, hiện nay, chúng ta cần có những giải pháp gì để tiếp tục giảm mức phí trên cũng như gia tăng chất lượng của lao động, trình độ lao động tương xứng?

Bà Đỗ Thị Ngọc: Tôi cho rằng, chúng ta sẽ tiếp tục phải hoàn thiện các chính sách về quản lý người di cư lao động quốc tế của Việt Nam ở nước ngoài cũng như là có những kênh chính thức về thông tin về lao động di cư quốc tế cũng như các kênh thông tin nắm bắt đầy đủ khi lao động trong nước ra nước ngoài làm việc.

Qua tìm hiểu, chúng ta đều biết rằng, bản thân người lao động nào cũng đều phải chuẩn bị tới 6 tháng để có thể có việc làm ở nước ngoài. Điều này đồng nghĩa với việc, người lao động đó phải học ngoại ngữ, tìm hiểu công việc và đào tạo thêm về kỹ năng lao động. Do đó, chúng ta rất cần tới những kênh chính thức thông tin đến người lao động, nhất là với các thông tin về thị trường, văn hóa, con người của nơi lao động xuất ngoại tới.

Đã đến lúc, chúng ta cần một quy chuẩn kỹ thuật tầm quốc gia cho các tổ chức tuyển dụng lao động sang thị trường nước ngoài đồng thời cung cấp tiêu chí, kinh phí quản lý đối với lao động hồi hương, tái hòa nhập khi tham gia lại thị trường lao động Việt Nam.

Cùng với đó, cần có những quản lý chặt chẽ, minh bạch, xác đáng về chính sách hỗ trợ của Việt Nam với người lao động Việt ở nước ngoài giúp họ yên tâm làm việc và không xảy ra những tranh chấp phát sinh không đáng có khi thỏa thuận lao động ở các thị trường quốc tế.

Tôi cho rằng, với những kết quả tích cực từ sự hợp tác và đồng hành này, những hạn chế về mặt thu thập dữ liệu sẽ dần dần được khắc phục, nhất là có thể giúp mở rộng mẫu thống kê, khảo sát hơn nữa để gia tăng thêm tính đại diện của đối tượng trong đó liên quan tới di cư lao động quốc tế.

Bà Đỗ Thị Ngọc, Phó Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính)

Phóng viên: Phải khẳng định rằng, thời gian qua, Việt Nam đã triển khai rất nhiều chương trình, nhất là với sự sát sao của Chính phủ để mở rộng cơ hội việc làm cũng như giảm chi phí ở mức tối đa cho người lao động. Về vấn đề này, bà có đánh giá như thế nào và chúng ta cần phải làm gì để giảm chi phí cho người lao động?

Bà Đỗ Thị Ngọc: Quả thật, qua theo dõi, chúng ta thấy rằng, các chính sách của Việt Nam đang cố gắng đáp ứng nhu cầu quản lý bao hàm cả các chính sách thu hút về di cư quốc tế, lao động quốc tế… Tất cả đều hướng đến tạo thuận lợi nhất cho người lao động có thể tìm kiếm được công việc phù hợp cũng như là giảm mức chi phí tối thiểu khi di cư lao động.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải có những giám sát thực thi. Chính sách tốt nhưng chúng ta phải giám sát kỹ hơn và trong triển khai cũng phải có những quy định chặt chẽ về các tổ chức tuyển dụng (họ phải đăng ký, phải công khai các nguồn chi phí như thế nào). Thí dụ, người lao động vay tiền chi trả cho chi phí phát sinh khi đi lao động ở nước ngoài có quy định về vay tín dụng hỗ trợ cụ thể nào, nếu vay với lãi suất thì sẽ có mức ưu tiên nào...

Hơn nữa, cần đặc biệt chú trọng quản lý an toàn của người lao động cũng như tập trung triển khai chính sách đào tạo với những nghề có chuyên môn cao, có thu nhập cao, tránh chỉ đơn thuần cho các lao động giản đơn.

Phóng viên: Với công tác này, bà đánh giá như thế nào về sự hợp tác của các tổ chức quốc tế trong hỗ trợ và đồng hành cùng Việt Nam trong củng cố chỉ tiêu phát triển bền vững SDG 10.7.1?

Bà Đỗ Thị Ngọc: Với nội dung thông tin này, chúng tôi thấy rằng, các tổ chức quốc tế và các đối tác nước ngoài rất quan tâm đến các dữ liệu phục vụ việc điều hành chính sách, nhất là với việc dựa trên bằng chứng thực tế.

Đây cũng là cam kết của Việt Nam để thực hiện được mục tiêu 5 năm một lần công bố chỉ tiêu phát triển bền vững SDG 10.7.1.

Các tổ chức quốc tế và đối tác nước ngoài đã hỗ trợ, hợp tác cụ thể như sự hỗ trợ kỹ thuật của Tổ chức di cư quốc tế (IOM) trong quá trình khảo sát và phân tích, cùng nguồn tài trợ của Liên minh châu Âu (EU) và Chính phủ Thụy Điển. Những hoạt động đó ngoài việc hỗ trợ Việt Nam các hoạt động điều tra thường xuyên thì còn lồng ghép chuyên đề chuyên sâu.

Tôi cho rằng, với những kết quả tích cực từ sự hợp tác và đồng hành này, những hạn chế về mặt thu thập dữ liệu sẽ dần dần được khắc phục, nhất là có thể giúp mở rộng mẫu thống kê, khảo sát hơn nữa để gia tăng thêm tính đại diện của đối tượng trong đó liên quan tới di cư lao động quốc tế.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn bà về những chia sẻ trên!

LÊ NGUYỄN (THỰC HIỆN)

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/ghi-nhan-chuyen-bien-tich-cuc-trong-chi-tieu-thong-ke-phat-trien-ben-vung-sdg-1071-post988903.html