Gia Lai khẩn trương 'làm sạch' hơn 8.800 mã số thuế doanh nghiệp
8.861 doanh nghiệp, tổ chức không hoạt động tại địa chỉ đăng ký vẫn là nhóm hồ sơ cần tập trung xác minh, xử lý, nhằm đưa dữ liệu thuế về sát với thực tế.
Sau hơn 4 tháng triển khai chiến dịch làm sạch mã số thuế, Thuế tỉnh Gia Lai đã xử lý gần 5.800 trong số 8.703 trường hợp ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Tuy nhiên, 8.861 doanh nghiệp, tổ chức không hoạt động tại địa chỉ đăng ký vẫn là nhóm hồ sơ cần tập trung xác minh, xử lý, nhằm đưa dữ liệu thuế về sát với thực tế.
Hơn 8.800 trường hợp cần xác minh, xử lý
Tại các địa bàn cơ sở, việc xác minh doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký được xác định là một trong những khâu khó, do nhiều hồ sơ tồn đọng qua nhiều năm, thông tin liên hệ không còn chính xác.
Trao đổi về vấn đề này, ông Hoàng Phi Dũng, Trưởng Thuế cơ sở 6 tỉnh Gia Lai cho biết, nhiều trường hợp doanh nghiệp đã ngừng hoạt động trong thời gian dài nhưng chưa hoàn tất thủ tục với cơ quan Thuế và cơ quan đăng ký kinh doanh. Khi cán bộ thuế tiến hành xác minh, doanh nghiệp không còn tại địa chỉ đăng ký, số điện thoại không liên lạc được hoặc người đại diện đã thay đổi thông tin.
"Chúng tôi đang rà soát từng trường hợp, phân loại theo tình trạng hoạt động, nghĩa vụ thuế và mức độ rủi ro. Những hồ sơ cần phối hợp với cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc chính quyền địa phương sẽ được theo dõi đến khi có kết quả cụ thể, không để việc xử lý chỉ dừng ở khâu lập hồ sơ, chuyển văn bản", ông Hoàng Phi Dũng cho biết.

Cán bộ, công chức Gia Lai hướng dẫn người dân thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường số. Ảnh minh họa: Quang Thái - TTXVN
Theo số liệu Cục Thuế theo dõi đến ngày 8/9/2026, Thuế tỉnh Gia Lai đã xử lý 66,6% trong tổng số 8.703 trường hợp thuộc diện ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Tỷ lệ này cao hơn đáng kể mức trung vị 36% của 34 Thuế tỉnh, thành phố.
Kết quả trên đạt được sau hơn 4 tháng triển khai Chiến dịch "Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh", nhằm rà soát, cập nhật và đưa tình trạng người nộp thuế trên hệ thống về sát với thực tế.
Tuy nhiên, nhóm doanh nghiệp, tổ chức không hoạt động tại địa chỉ đăng ký vẫn còn số lượng lớn. Tỉnh có 8.861 trường hợp thuộc nhóm này nhưng mới xử lý được 443 trường hợp.
Theo Phó Trưởng Thuế tỉnh Gia Lai Trần Hữu Danh, nhiều hồ sơ trong nhóm này tồn đọng qua nhiều năm. Thông tin về địa chỉ, số điện thoại, người đại diện có thể đã thay đổi; trong khi dữ liệu giữa hệ thống quản lý thuế và hệ thống đăng ký kinh doanh ở một số trường hợp chưa đồng bộ.
"Điểm khó hiện nay là phải xác định chính xác tình trạng thực tế của từng trường hợp. Có những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động từ lâu, không còn tại địa chỉ đăng ký, không liên hệ được với người đại diện. Vì vậy, việc xử lý không thể chỉ dựa trên hồ sơ có sẵn trên hệ thống mà cần xác minh, đối chiếu và phối hợp với các cơ quan liên quan", ông Trần Hữu Danh cho biết.
Không để hồ sơ dừng ở việc chuyển văn bản
Từ thực tế trên, Thuế tỉnh Gia Lai xác định việc xử lý nhóm doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký phải chuyển từ cách làm thiên về hoàn tất thủ tục trên hồ sơ sang theo dõi đến kết quả cuối cùng.
Theo đó, từng trường hợp được rà soát, phân loại theo tình trạng hoạt động, nghĩa vụ thuế và mức độ rủi ro để xác định hướng xử lý. Với doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký từ một năm trở lên, cơ quan Thuế tiếp tục hoàn thiện hồ sơ, chuyển cơ quan đăng ký kinh doanh xử lý theo quy định và theo dõi kết quả.
"Đối với các trường hợp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, ngành Thuế sẽ không dừng ở việc chuyển văn bản. Từng hồ sơ phải được rà soát, phân loại, xác định rõ cơ quan, đơn vị và người chịu trách nhiệm; trường hợp thuộc diện phải phối hợp xử lý thì tiếp tục theo dõi đến khi có kết quả cuối cùng", ông Danh nhấn mạnh.
Đối với những trường hợp có nợ thuế, đủ điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc có dấu hiệu rủi ro cao về hóa đơn, trốn thuế, lợi dụng pháp nhân, ngành Thuế phối hợp với các cơ quan liên quan để áp dụng biện pháp quản lý theo quy định.
Cùng với xử lý hồ sơ tồn đọng, ngành Thuế cũng chú trọng tháo gỡ thủ tục cho những người nộp thuế đã hoàn thành nghĩa vụ. Theo đó, hạn chế yêu cầu người nộp thuế cung cấp lại thông tin, tài liệu mà cơ quan nhà nước đã có hoặc có thể trao đổi, đối chiếu.
"Người nộp thuế đã hoàn thành nghĩa vụ phải được xác nhận đúng thời hạn, không phát sinh thêm thủ tục, chi phí tuân thủ ngoài quy định. Những vướng mắc vượt thẩm quyền phải được tổng hợp, báo cáo và đề xuất hướng xử lý cụ thể, không để tồn đọng kéo dài mà không có đầu mối, thời hạn giải quyết", ông Trần Hữu Danh nói.
Mục tiêu xử lý đến cùng trong năm 2026
Trong thời gian còn lại của năm 2026, Thuế tỉnh Gia Lai tiếp tục tập trung xử lý nhóm doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh không hoạt động tại địa chỉ đăng ký; đồng thời duy trì kết quả đối với nhóm ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Ngành Thuế phấn đấu hoàn thành 100% trường hợp doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh thuộc diện không rủi ro cao, đủ điều kiện xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế để tiếp tục thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động trước ngày 31/12/2026.
Bên cạnh đó, ngành Thuế tiếp tục kiểm soát chất lượng dữ liệu, khắc phục các lỗi liên thông, tăng cường đối chiếu với cơ quan đăng ký kinh doanh và phối hợp chính quyền địa phương trong xác minh người nộp thuế.
Phó Trưởng Thuế tỉnh Gia Lai Trần Hữu Danh cho biết, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới là không để phát sinh thêm hồ sơ chậm xử lý do nguyên nhân chủ quan. Những trường hợp đủ điều kiện phải được giải quyết đúng thời hạn; trường hợp còn vướng mắc phải xác định rõ nguyên nhân, đầu mối và thời hạn xử lý.
Việc làm sạch mã số thuế vì vậy không chỉ nhằm giảm số lượng hồ sơ tồn trên hệ thống mà còn hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu phản ánh đúng thực tế hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh. Đây là cơ sở để cơ quan Thuế quản lý chính xác hơn, đồng thời hạn chế tình trạng doanh nghiệp đã ngừng hoạt động thực tế nhưng vẫn tồn tại kéo dài trên hệ thống, gây vướng mắc cho cả cơ quan quản lý và người nộp thuế.

