Giảm thuế, tiếp sức cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 398/2026 quy định chi tiết Nghị quyết số 43/2026 của Quốc hội về giảm thuế thu nhập cá nhân (TNCN), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) nhằm hỗ trợ người nộp thuế (NNT) và tạo thêm nguồn lực phát triển sản xuất, kinh doanh. Phóng viên Báo và Phát thanh, Truyền hình Khánh Hòa phỏng vấn ông Nguyễn Ngọc Tú - Trưởng Thuế tỉnh về vấn đề này.
- Ông cho biết những nội dung đáng chú ý của Nghị định số 398/2026?
- Nghị định số 398/2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 29-10-2026 quy định chi tiết về giảm thuế TNCN, thuế TNDN đối với cá nhân và doanh nghiệp (DN) theo quy định tại Nghị quyết số 43/2026 của Quốc hội. Đây là chính sách hỗ trợ thiết thực, giúp giảm nghĩa vụ tài chính, tạo điều kiện để các chủ thể kinh doanh, nhất là cơ sở quy mô nhỏ có thêm nguồn lực duy trì, mở rộng sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Ông Nguyễn Ngọc Tú - Trưởng Thuế tỉnh.
Theo đó, chính sách quy định giảm 30% số thuế TNCN và thuế TNDN phải nộp trong kỳ tính thuế năm 2026 và 2027 đối với các đối tượng đáp ứng điều kiện theo quy định. Trong đó, đối với cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh, bao gồm cả cá nhân đăng ký thành lập hộ kinh doanh hoặc người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm người đại diện hộ kinh doanh, có doanh thu hằng năm của năm 2026 và 2027 không quá 10 tỷ đồng, được giảm 30% số thuế TNCN phải nộp từ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Tương tự, chính sách cũng áp dụng đối với DN, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam, có hoạt động sản xuất, kinh doanh và doanh thu hằng năm của năm 2026 và 2027 không quá 10 tỷ đồng. Các đối tượng đáp ứng điều kiện được giảm 30% số thuế TNDN phải nộp theo quy định.
Tuy nhiên, chính sách không áp dụng đối với DN được hình thành từ việc chia, tách DN sau ngày Nghị quyết số 43/2026 có hiệu lực, nếu tổng doanh thu hằng năm của các DN sau chia, tách trong năm 2026 hoặc 2027 vượt quá 10 tỷ đồng. Quy định này nhằm ngăn ngừa việc lợi dụng chia, tách DN để đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi thuế, bảo đảm chính sách được áp dụng đúng đối tượng.
Bên cạnh đó, đối với DN đang được hưởng ưu đãi thuế theo quy định của Luật Thuế TNDN hoặc các luật, nghị quyết khác của Quốc hội, số thuế TNDN được giảm 30% theo chính sách này được tính trên số thuế phải nộp sau khi đã trừ các khoản ưu đãi thuế đang được hưởng. Như vậy, DN đáp ứng điều kiện vẫn có thể được áp dụng chính sách giảm thuế này trên số thuế còn phải nộp sau ưu đãi.
- Người nộp thuế cần lưu ý những gì về hồ sơ, thủ tục kê khai để được hưởng chính sách giảm thuế, thưa ông?
- Để được hưởng chính sách giảm thuế, NNT cần kê khai đúng biểu mẫu, bảo đảm thông tin chính xác và lưu giữ hồ sơ, chứng từ chứng minh đủ điều kiện để phục vụ kiểm tra, đối chiếu khi cần thiết.
Đối với hộ, cá nhân kinh doanh, trường hợp dự kiến doanh thu trong năm 2026 hoặc 2027 không quá 10 tỷ đồng thì thực hiện kê khai số thuế TNCN được giảm theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo nghị định và nộp cùng hồ sơ khai thuế theo kỳ kê khai tương ứng. Trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện khấu trừ, khai thay, nộp thay thuế cho cá nhân kinh doanh thì sử dụng Mẫu số 02 theo quy định.
Đối với DN, căn cứ doanh thu dự kiến trong kỳ tính thuế, DN tự xác định số thuế TNDN được giảm khi thực hiện tạm nộp thuế hằng quý. Khi xác định nghĩa vụ thuế của cả năm, DN phải căn cứ vào doanh thu thực tế để xác định chính xác điều kiện và số thuế được giảm.

Cán bộ thuế tuyên truyền, hỗ trợ chính sách thuế cho hộ kinh doanh.
Tuy nhiên, NNT cũng cần lưu ý, trường hợp doanh thu thực tế trong năm vượt quá 10 tỷ đồng thì NNT không thuộc diện được hưởng chính sách giảm thuế. Khi đó, hộ, cá nhân kinh doanh phải kê khai điều chỉnh và nộp bổ sung số thuế đã được giảm theo quy định. Đối với DN, phải xác định lại nghĩa vụ thuế, nộp đủ số tiền thuế thiếu so với số phải nộp và xử lý tiền chậm nộp theo quy định.
- Chính sách này có ý nghĩa như thế nào đối với cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp, nhất là các hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ?
- Có thể khẳng định, chính sách giảm 30% thuế TNCN và thuế TNDN trong 2 năm 2026 và 2027 có ý nghĩa thiết thực đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và DN, nhất là các DN nhỏ. Việc giảm thuế giúp các chủ thể kinh doanh giảm áp lực tài chính, tăng khả năng tích lũy vốn, có thêm nguồn lực tái đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh. Chính sách cũng góp phần khuyến khích hộ kinh doanh mở rộng quy mô, từng bước chuyển đổi lên mô hình DN; thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển chuyên nghiệp, minh bạch và bền vững hơn.
Về lâu dài, khi các chủ thể kinh doanh phát triển, mở rộng hoạt động, tạo thêm việc làm và thu nhập, nguồn thu ngân sách cũng được nuôi dưỡng, mở rộng. Đối với Khánh Hòa, chính sách được kỳ vọng góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
- Để chính sách sớm đi vào cuộc sống, ngành thuế tỉnh triển khai những giải pháp gì trong thời gian tới, thưa ông?
- Thuế tỉnh xác định triển khai kịp thời, đồng bộ, đúng quy định và tạo thuận lợi cho NNT là nhiệm vụ trọng tâm. Theo đó, đơn vị sẽ đẩy mạnh tuyên truyền chính sách bằng nhiều hình thức, chú trọng các nền tảng số như: Cổng thông tin điện tử, mạng xã hội, Infographic, video hướng dẫn và tài liệu hỏi đáp. Nội dung tập trung làm rõ đối tượng, điều kiện, mức giảm thuế, hồ sơ và phương thức kê khai để DN, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh dễ tiếp cận, thực hiện. Đồng thời, tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ trực tiếp và trực tuyến; chủ động tiếp nhận, giải đáp vướng mắc, nhất là đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và DN nhỏ trong việc xác định điều kiện, kê khai và điều chỉnh nghĩa vụ thuế, bảo đảm các đối tượng đủ điều kiện được thụ hưởng đầy đủ chính sách.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng dịch vụ thuế điện tử, tạo thuận lợi cho NNT thực hiện các thủ tục, tiết kiệm thời gian và chi phí.
Thuế tỉnh cũng tăng cường phối hợp với các sở, ngành, hiệp hội DN và chính quyền địa phương để phổ biến chính sách, kịp thời nắm bắt, tháo gỡ vướng mắc, bảo đảm chính sách được triển khai đúng đối tượng, đúng quy định và phát huy hiệu quả.

