Giáo dục nghề nghiệp cần gắn chuyển đổi số với nhu cầu thị trường lao động

Giáo dục nghề nghiệp không chỉ đưa công nghệ vào nhà trường, mà là làm thế nào để hệ thống đào tạo đáp ứng yêu cầu thay đổi của thị trường lao động.

Sinh viên Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội trực tiếp thực hành trên thiết bị, máy móc.

Sinh viên Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội trực tiếp thực hành trên thiết bị, máy móc.

Tái cấu trúc hệ thống đào tạo trong kỷ nguyên số

Theo ông Trần Thanh Đạm - Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên (Bộ GD&ĐT), chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp đang chuyển từ ứng dụng công nghệ trong hoạt động đào tạo sang tái cấu trúc cách thức vận hành của hệ thống, từ dự báo nhu cầu kỹ năng đến tổ chức đào tạo, đánh giá năng lực và kết nối người học với thị trường lao động.

Theo dự báo, đến năm 2030, khoảng 22% số việc làm hiện nay có thể thay đổi. Trong đó, khoảng 170 triệu việc làm mới được tạo ra, trong khi 92 triệu việc làm có thể bị thay thế.

Thực tế này đặt ra yêu cầu giáo dục nghề nghiệp phải nhanh chóng chuyển hóa những thay đổi của thị trường lao động thành kỹ năng, chương trình và phương thức đào tạo phù hợp. Đồng thời, hệ thống cần giúp người học chuyển hóa kỹ năng thành việc làm và sinh kế bền vững.

Các quốc gia ASEAN xác định, phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng thích ứng với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và tăng cường khả năng dịch chuyển lao động là những ưu tiên quan trọng.

Tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành các văn bản chỉ đạo, đề ra những mục tiêu lớn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Định hướng chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp được triển khai tương đối toàn diện, từ phát triển năng lực số cho nhà giáo và cán bộ quản lý; đổi mới chương trình, nội dung, phương thức đào tạo đến phát triển hạ tầng, nền tảng và học liệu số.

Cùng với đó là xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ chuyển đổi số trong quản lý nhà nước và quản trị nhà trường; tăng cường nguồn lực hợp tác quốc tế, bảo đảm an toàn, an ninh mạng.

Mục tiêu đến năm 2030 là 100% cơ sở đào tạo đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp hoàn thiện mô hình quản trị số, hoạt động số, chuẩn hóa dữ liệu số và kho học liệu số mở; đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng số cơ bản cho tối thiểu khoảng 100 lượt người trong độ tuổi lao động.

Theo ông Trần Thanh Đạm, định hướng này đồng thời xác định phát triển năng lực số là nhiệm vụ then chốt, yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo theo hướng phát triển tư duy số, trí tuệ nhân tạo (AI), tư duy dữ liệu; tăng cường giáo dục nghề nghiệp số, đào tạo lại, đào tạo thường xuyên; thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp, phát triển các nền tảng kết nối đào tạo với việc làm trên cơ sở dự báo nhu cầu nhân lực.

Tuy nhiên, vấn đề hiện nay không còn là có chuyển đổi số hay không, mà là chuyển đổi số như thế nào để tạo ra giá trị thực chất và đồng đều trong toàn hệ thống.

Kết nối dữ liệu, nhà trường và doanh nghiệp

Nhiều trường nghề mời doanh nghiệp tham gia đào tạo trực tiếp cho học sinh, sinh viên

Nhiều trường nghề mời doanh nghiệp tham gia đào tạo trực tiếp cho học sinh, sinh viên

Trong kỷ nguyên số, giáo dục nghề nghiệp không thể vận hành như một hệ thống đào tạo tách biệt với thị trường lao động. Bà Vũ Thị Tú Anh - Phó Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên (Bộ GD&ĐT) - cho rằng, công nghệ, mô hình sản xuất, chuỗi cung ứng và cách thức tổ chức việc làm đang thay đổi nhanh chóng.

Nếu nhà trường cập nhật chậm hơn doanh nghiệp, người học sẽ gặp khó khăn khi chuyển từ môi trường học tập sang môi trường làm việc. Nếu doanh nghiệp không tham gia quá trình đào tạo, chương trình sẽ khó phản ánh đầy đủ những năng lực thị trường đang cần.

Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là đổi mới từng hoạt động riêng lẻ, mà còn là tổ chức lại mối liên kết giữa đào tạo, kỹ năng, dữ liệu và việc làm.

Từ góc độ chính sách, bà Vũ Thị Tú Anh nhấn mạnh, định hướng phát triển giáo dục trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu xây dựng hệ thống giáo dục nghề nghiệp hiện đại, linh hoạt, mở, liên thông, có khả năng phục vụ học tập suốt đời và được nhìn nhận như một hệ sinh thái.

Trong hệ sinh thái đó, dữ liệu giữ vai trò đặc biệt quan trọng, bao gồm dữ liệu về nhu cầu kỹ năng, vị trí việc làm, chuẩn nghề, xu hướng công nghệ, kết quả học tập, quá trình thực hành và khả năng có việc làm của người học.

Khi dữ liệu được kết nối, nhà trường có thể cập nhật chương trình nhanh hơn; doanh nghiệp tham gia đào tạo có mục tiêu hơn; người học nhận diện rõ hơn lộ trình nghề nghiệp; cơ quan quản lý có thêm cơ sở để xây dựng chính sách dựa trên bằng chứng.

Đề cập vai trò của Chính phủ, doanh nghiệp và giáo dục trong việc bảo đảm năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam, bà Mish Eastman - Phó Hiệu trưởng phụ trách giáo dục nghề nghiệp, Đại học RMIT, cho rằng sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia phụ thuộc rất lớn vào công tác đào tạo nguồn nhân lực.

Trong bối cảnh công nghệ phát triển, đào tạo nhân lực cần đổi mới tư duy để đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp trong tương lai, đặc biệt là trang bị kiến thức về công nghệ, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số.

Theo bà Mish Eastman, Việt Nam đặt mục tiêu cao về phát triển kinh tế, đồng thời đối mặt với những thách thức trong đào tạo nguồn nhân lực. Người học không chỉ cần đáp ứng yêu cầu kỹ năng hiện tại mà còn phải chuẩn bị năng lực phù hợp với những yêu cầu nghề nghiệp được dự báo trong tương lai.

“Người học trong quá trình học tập cần có những trải nghiệm thực tế. Thông qua hỗ trợ người học, cơ sở giáo dục cũng bảo đảm được chất lượng đào tạo của mình đối với doanh nghiệp khi đã có kết nối hai bên” - bà Mish Eastman chia sẻ.

Minh Phong

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/giao-duc-nghe-nghiep-can-gan-chuyen-doi-so-voi-nhu-cau-thi-truong-lao-dong-post796616.html