Giữ vững biên cương qua mô hình 'Kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới'

Trên tuyến biên giới Việt Nam-Campuchia qua địa bàn tỉnh Gia Lai, hơn một thập kỷ qua đã hình thành và lan tỏa một mô hình mang đậm tính chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc, đó là mô hình 'Kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới'. Không chỉ góp phần giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, mô hình này còn trở thành cầu nối bền chặt của tình đoàn kết, hữu nghị, hợp tác và phát triển giữa nhân dân hai nước, khẳng định vai trò hạt nhân của 'thế trận lòng dân' trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

Lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh Gia Lai thường xuyên tổ chức hội đàm với lực lượng quản lý, bảo vệ biên giới tỉnh Rattanakiri, Campuchia để nắm, phối hợp xử lý tốt tình hình hai bên biên giới. Ảnh: Đơn vị cung cấp

Lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh Gia Lai thường xuyên tổ chức hội đàm với lực lượng quản lý, bảo vệ biên giới tỉnh Rattanakiri, Campuchia để nắm, phối hợp xử lý tốt tình hình hai bên biên giới. Ảnh: Đơn vị cung cấp

Từ đường biên địa lý đến không gian hợp tác nhân dân

Gia Lai là tỉnh có đường biên giới đất liền tiếp giáp với Vương quốc Campuchia dài hơn 80km, trải dài trên địa bàn 7 xã biên giới. Đây là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng-an ninh, đồng thời cũng là không gian sinh sống lâu đời của đồng bào các dân tộc thiểu số, trong đó, người Gia Rai chiếm tỷ lệ lớn ở cả hai bên biên giới. Lịch sử, văn hóa và mối quan hệ thân tộc xuyên biên giới vừa là lợi thế, vừa đặt ra yêu cầu đặc biệt trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới.

Xuất phát từ thực tiễn đó, hơn 10 năm qua, Bộ đội Biên phòng tỉnh Gia Lai đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền và lực lượng bảo vệ biên giới các tỉnh giáp ranh của Campuchia triển khai mô hình “Kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới”. Thông qua kết nghĩa, các làng, thôn hai bên biên giới không chỉ tăng cường giao lưu, hiểu biết lẫn nhau, mà còn phối hợp chặt chẽ trong tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm các hiệp định, quy chế biên giới; cùng nhau giải quyết những vấn đề nảy sinh từ cơ sở, không để phát sinh điểm nóng, phức tạp kéo dài.

Điểm nổi bật của mô hình “Kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới” là tính chiến lược và bền vững. Thay vì chỉ tập trung vào các biện pháp hành chính hay quân sự đơn thuần, mô hình này đi thẳng vào gốc rễ của vấn đề, đó là nâng cao nhận thức, trách nhiệm và vai trò của người dân trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Thông qua các hoạt động kết nghĩa, lực lượng chức năng hai nước đã phối hợp tổ chức hàng nghìn buổi tuyên truyền, phổ biến pháp luật, giúp người dân hiểu rõ nội dung các hiệp định, quy chế về biên giới, cửa khẩu; nhận diện rõ âm mưu, phương thức, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền để chia rẽ khối đại đoàn kết Việt Nam-Campuchia. Từ đó, người dân chủ động hơn trong việc chấp hành pháp luật, không tiếp tay cho các hành vi vi phạm, đồng thời tích cực tham gia giữ gìn an ninh trật tự địa bàn.

Những câu chuyện của niềm tin và sự sẻ chia

Làng Bua, xã Ia Pnôn, tỉnh Gia Lai, Việt Nam và làng Đo Nhỏ, xã Ozatung, huyện Oyadav, tỉnh Rattanakiri, Vương quốc Campuchia là một trong những điểm sáng tiêu biểu khi thực hiện mô hình “Kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới”. Năm 2014, khi hai làng chính thức ký kết nghĩa giữa hai làng, niềm vui và kỳ vọng đã lan tỏa trong từng nếp nhà. Già Rơ Châm Ét, người có uy tín của làng Bua xúc động chia sẻ, cư dân hai bên biên giới phần lớn là người Gia Rai, có nhiều nét tương đồng về phong tục, tập quán. Bao đời nay cùng ăn chung nguồn nước, tắm chung dòng sông, nhưng vì ranh giới quốc gia nên việc qua lại, thăm hỏi còn nhiều hạn chế.

Từ khi kết nghĩa, bà con có điều kiện gặp gỡ, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, hỗ trợ nhau lúc khó khăn, hoạn nạn, tình cảm ngày càng gắn bó như anh em một nhà. Không chỉ dừng lại ở sự thấu hiểu văn hóa, mối quan hệ kết nghĩa còn tạo nền tảng cho hợp tác phát triển kinh tế. Những khúc mắc trong đời sống được hai bên cùng nhau bàn bạc, tháo gỡ trên tinh thần tôn trọng, đoàn kết, vì lợi ích chung của cộng đồng biên giới.

Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh tổ chức các lễ hội cho nhân dân hai bên biên giới. Ảnh: Đơn vị cung cấp

Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh tổ chức các lễ hội cho nhân dân hai bên biên giới. Ảnh: Đơn vị cung cấp

Tương tự, ở làng Sơn, xã Ia Nan, tỉnh Gia Lai và làng Lâm, xã Pó Nhầy, huyện Oyadav, tỉnh Rattanakiri, mô hình kết nghĩa không chỉ gắn kết cộng đồng, mà còn se duyên cho những mối lương duyên vượt qua ranh giới quốc gia. Chị Siu H’Găng, người làng Sơn kể lại câu chuyện nên duyên vợ chồng với chàng trai làng Lâm như một minh chứng sống động cho sức lan tỏa của mô hình. Nhờ sự gắn kết giữa hai làng, việc qua lại, thăm nom, hỗ trợ nhau trong lao động sản xuất và đời sống trở nên thuận lợi, cởi mở hơn. Những câu chuyện vui buồn trong gia đình không còn bó hẹp trong phạm vi một làng, một nước, mà được sẻ chia bằng sự đồng cảm của cả hai cộng đồng, hai dân tộc. Chính sự giao thoa ấy đã làm cho tình đoàn kết Việt Nam-Campuchia trở nên gần gũi, tự nhiên và bền chặt từ cơ sở.

Một ví dụ điển hình khác là mối quan hệ kết nghĩa giữa làng Mook Đen 1, xã Ia Dom, tỉnh Gia Lai và làng Pó Lớn, xã Pó Nhầy, huyện Oyadav, tỉnh Rattanakiri. Trên nền tảng đoàn kết, gắn bó lâu đời và nhiều mối quan hệ thân tộc, việc kết nghĩa đã mở ra hướng hợp tác thiết thực trong phát triển kinh tế. Ông Klan Chíp, Trưởng thôn Pó Lớn khẳng định, người dân hai làng luôn coi nhau như người trong một gia đình lớn. Nhờ sự hỗ trợ của bà con làng Mook Đen 1 trong việc hướng dẫn kỹ thuật và tặng cây giống, 13 hộ dân làng Pó Lớn đã trồng được 14ha hồ tiêu, từng bước cải thiện đời sống, vươn lên thoát nghèo. Đây là minh chứng rõ nét cho hiệu quả kinh tế, xã hội mà mô hình kết nghĩa mang lại, góp phần xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng biên giới.

Đặc biệt, kể từ khi triển khai mô hình đến nay, các cụm dân cư kết nghĩa hai bên biên giới trên địa bàn tỉnh Gia Lai và các tỉnh giáp ranh của Campuchia đã phối hợp tổ chức các buổi tuyên truyền, thu hút đông đảo người tham gia. Điều đáng nói là các hoạt động tuyên truyền không chỉ dừng lại ở việc phổ biến các hiệp định, quy chế biên giới hay quy định pháp luật liên quan đến xuất nhập cảnh, quản lý lãnh thổ, mà còn đi sâu vào việc nâng cao nhận thức chính trị, củng cố niềm tin của người dân đối với đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, lực lượng bảo vệ biên giới hai bên còn tổ chức hàng trăm lần tuần tra song phương với hàng nghìn lượt người dân trực tiếp tham gia, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý hiệu quả các vấn đề nảy sinh trên tuyến biên giới.

Thông qua những buổi gặp gỡ, trao đổi trực tiếp, người dân hai bên biên giới hiểu rõ hơn quyền lợi và trách nhiệm của mình, nhận diện được âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, thân tộc để kích động, chia rẽ khối đoàn kết Việt Nam-Campuchia. Chính sự “thấm” dần về nhận thức ấy đã tạo nên lá chắn mềm nhưng vô cùng vững chắc trong bảo vệ an ninh biên giới từ cơ sở. Điều đó không chỉ phản ánh quy mô hoạt động, mà quan trọng hơn là cho thấy chiều sâu và sức sống của mô hình “Kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới”. Đó là sức sống bắt nguồn từ sự đồng thuận của nhân dân, từ mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa cộng đồng các dân tộc sinh sống lâu đời hai bên đường biên. Thông qua kết nghĩa, những giá trị văn hóa tương đồng được trân trọng, những khó khăn trong đời sống được sẻ chia, những mâu thuẫn nhỏ được giải quyết ngay từ cơ sở, không để phát sinh phức tạp kéo dài.

Từ những ngôi làng kết nghĩa, từ những câu chuyện sẻ chia mộc mạc nhưng chân thành, mô hình này đã góp phần hiện thực hóa phương châm “Biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”, đồng thời khẳng định vai trò nòng cốt của Bộ đội Biên phòng trong tham mưu, tổ chức thực hiện và kết nối nhân dân hai bên biên giới.

Duy Thắng

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/giu-vung-bien-cuong-qua-mo-hinh-ket-nghia-cum-dan-cu-hai-ben-bien-gioi-post499734.html