Gỡ khó cho người nuôi ngao
Sau hai vụ ngao chết trắng, điều còn lại với nhiều hộ dân phường Ngọc Sơn là những khoản nợ và nỗi lo lấy đâu vốn để nuôi tiếp. Bao năm sống nhờ bãi triều, nay họ phải tính toán lại từng khoản chi để giữ nghề. Trong lúc chờ hỗ trợ, chuyện xuống giống vụ mới vẫn là bài toán khó của nhiều gia đình.

Vùng nuôi ngao trên bãi triều phường Ngọc Sơn, nơi nhiều hộ dân chịu thiệt hại nặng sau hai vụ ngao chết liên tiếp.
Ngao "cười", người khóc
Gần hai tháng sau đợt ngao chết hàng loạt từ cuối tháng 8/2026, nhiều hộ nuôi tại phường Ngọc Sơn vẫn chưa thể nuôi lại. Trên những bãi ngao cũ, thay cho cảnh nhộn nhịp thu hoạch, chăm sóc ngao là những vỏ ngao trắng xóa, bốc mùi trên nền bùn nhão và tiếng thở dài của người dân bám biển.
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa, hiện tượng ngao chết xuất hiện từ ngày 26/8/2026, trong thời điểm chịu ảnh hưởng của cơn bão số 4, mưa lớn kéo dài. Nhận định ban đầu của cơ quan chuyên môn là lượng nước ngọt từ thượng nguồn đổ về cửa biển lớn khiến độ mặn giảm nhanh, ngao bị sốc, ảnh hưởng đến sức khỏe và chết. Kết quả quan trắc ghi nhận độ mặn từ 25,4‰ ngày 13/8 giảm xuống còn 8,6‰ ngày 28/8, thấp hơn giới hạn 20 – 35‰ trong nuôi ngao, nhuyễn thể theo TCVN 13951:2024 được dẫn trong báo cáo. Tại thời điểm kiểm tra, khoảng 60ha bãi nuôi của 50 hộ bị ảnh hưởng, trên tổng số 83ha của 78 hộ nuôi trên địa bàn; tỷ lệ ngao chết khoảng 80%, sản lượng thiệt hại ước 2.000 – 2.400 tấn. Ông Lê Đình Phương, Phó Chủ tịch UBND phường Ngọc Sơn, cho biết: “Ngay khi nhận thông tin từ bà con vào đầu tháng 9, chính quyền đã phối hợp với cơ quan chuyên môn xuống thực địa lấy mẫu, hướng dẫn xử lý môi trường. Tuy nhiên, thiệt hại đối với đời sống Nhân dân là rất lớn”.
Lội giữa bãi bồi ken đặc vỏ ngao há miệng, bà Lê Thị Thơ bới nhẹ lớp cát mỏng. Gắn bó với nghề nuôi ngao hơn hai thập kỷ, từ ngày bãi bồi còn hoang hóa, bà hiểu từng con nước, “tính nết” con ngao. Chỗ nào ngao tụ dày phải san, chỗ nào nước đọng phải khơi, con nước nào cần đề phòng... bà đều nắm rõ. Thế nhưng, từng ấy năm kinh nghiệm cũng chẳng thể giúp gia đình bà tránh được thiệt hại trong vụ nuôi năm nay.
“Trắng tay thật rồi cháu ạ! Ba mẹ con nuôi chung diện tích hơn 3ha, riêng tiền mua 25 tấn giống và chi phí đánh rửa, cải tạo bãi bỏ đi đã lên tới khoảng 1,5 tỷ đồng”, bà Thơ ngậm ngùi chia sẻ. Để có vốn duy trì nghề và tái sản xuất, gia đình bà đã thế chấp sổ đỏ, vay ngân hàng gần 3 tỷ đồng. Đây là năm thứ hai liên tiếp ngao chết khi chưa kịp thu hoạch. Vốn liếng đổ ra bãi, trong khi tiền lãi ngân hàng vẫn phải trả mỗi tháng. Người đàn bà 65 tuổi kể, có những đêm nghĩ đến số tiền đã mất, bà suy sụp. Đến cuối tháng 10, bà Thơ ước tính tổng chi phí cả vụ của ba mẹ con, gồm tiền giống, làm bãi và các khoản đầu tư khác, gần 2 tỷ đồng.
Cùng chung cảnh ngộ, ông Phạm Viết Thành, ở tổ dân phố Yên Châu, như ngồi trên đống lửa khi khoảng 5ha ngao của gia đình bị mất trắng. Vụ năm nay, riêng tiền mua 30 tấn giống đã khoảng 1,8 tỷ đồng. Trước đó, sau vụ thiệt hại năm 2025, ông phải bỏ thêm khoảng 300 triệu đồng để thu dọn xác ngao, làm sạch và cải tạo bãi. Vốn vụ trước chưa thu hồi được, vụ sau lại thiệt hại. Hỏi lấy đâu ra vốn để tiếp tục nuôi, người đàn ông bám biển chỉ đáp: “Cắm cả sổ nhà rồi, sổ đất vay ngân hàng...”. Câu nói ngắn ngủi gói cả nỗi lo của một gia đình đã thế chấp nhà đất để đầu tư vào bãi ngao, nay chưa biết xoay xở ra sao với khoản nợ.
Giấy tờ vướng, nợ nần vương
Giữa lúc thiếu vốn, khoản hỗ trợ được trông đợi vẫn chưa đến. Cuối tháng 10, bà Thơ cho biết gia đình chưa nhận được tiền hỗ trợ thiệt hại từ vụ nuôi năm 2025.
Theo bà Thơ, địa phương đang hướng dẫn người dân hoàn thiện hồ sơ đề nghị hỗ trợ. Tuy nhiên, bà con còn vướng ở giấy tờ chứng minh khoản đầu tư mua con giống. Cụ thể, trong quá trình hoàn thiện hồ sơ, người nuôi được yêu cầu bổ sung hóa đơn mua giống. Trong khi đó, bà con lâu nay mua giống từ thương lái, các cơ sở ươm tạo hộ gia đình ở tỉnh Nam Định (cũ), Thái Bình (cũ) hay xã Vạn Lộc, thường chỉ có hợp đồng mua bán viết tay hoặc giấy xác nhận liên quan.
Không chỉ chuyện giấy tờ, con đường trở lại bãi nuôi còn nặng gánh chi phí. Trước khi thả một lớp giống mới, người nuôi phải “đánh vỏ” - thu gom, đưa vỏ ngao chết ra khỏi bãi. Với khoảng 3ha của 3 mẹ con, bà Thơ dự tính riêng khâu đánh vỏ, vận chuyển đi xử lý đã cần khoảng 400 – 500 triệu đồng. Công việc phụ thuộc con nước, có thể kéo dài gần 3 tháng.

Bà Lê Thị Thơ bên những vỏ ngao chết trên bãi nuôi của gia đình tại phường Ngọc Sơn.
Dọn hết vỏ ngao vẫn chưa thể thả giống ngay. Mặt bãi còn phải cày bừa, xử lý lớp bùn, chuẩn bị lại điều kiện nuôi. Theo mức giá bà Thơ đang tìm hiểu, ngao giống hiện khoảng 80 triệu đồng/tấn. Chỉ mua 10 tấn đã cần khoảng 800 triệu đồng, chưa kể tiền làm bãi và chăm sóc sau khi thả. Bà tính, nếu làm lại trên toàn bộ diện tích, số tiền cần thu xếp có thể hơn 2 tỷ đồng.
Những khoản chi nối nhau trong khi nguồn lực gia đình đã vơi. “Muốn làm mà bất lực”, bà Thơ nói. Đến cuối tháng 10, gia đình bà vẫn chưa bắt đầu dọn bãi. Theo thông tin bà nắm được, gia đình ông Thành cùng nhiều hộ trong vùng cũng chưa thể làm lại vì thiếu vốn.
Còn người, còn bãi
“Thua keo này ta bày keo khác cháu ạ”, bà Thơ nói khi nhắc đến chuyện trở lại bãi nuôi. Chưa có vốn để làm ngay, bà tính từng bước: sang tháng 11, tháng 12, khi nước ròng vào ban ngày thuận tiện hơn, sẽ bắt đầu thu dọn vỏ ngao. Dọn sạch bãi, cải tạo lại nền rồi sang năm mới tính chuyện vay mượn thả giống.
Trong lúc khó khăn, theo bà Thơ, địa phương đã chia khoản phí phải nộp theo hợp đồng thành nhiều đợt trong năm để người dân bớt áp lực. Bà cũng mong thời hạn sử dụng bãi được xem xét dài hơn. Hợp đồng hiện tại có thời hạn hai năm, trong khi mỗi lần cải tạo bãi cần một khoản tiền lớn, còn thu hồi được vốn hay không phải chờ qua nhiều con nước.
Nghề nuôi ngao từng giúp nhiều gia đình nơi đây có của ăn, của để. Nhưng sau những vụ mất lớn, chỉ sự chịu khó và kinh nghiệm chưa đủ để người nuôi đứng dậy. Cùng với việc sớm làm rõ hồ sơ, điều kiện hỗ trợ, các khoản vay cần được ngân hàng xem xét theo hoàn cảnh, khả năng trả nợ của từng hộ. Kiến nghị về thời hạn sử dụng bãi cũng cần được cân nhắc trên cơ sở quy hoạch và chu kỳ sản xuất, để người nuôi có điều kiện tính chuyện lâu dài. Mong muốn có bảo hiểm cho nghề nuôi ngao xuất phát từ nhu cầu được san sẻ rủi ro sau những lần thiệt hại liên tiếp.
Việc trở lại bãi còn phải đi cùng những điều chỉnh trong cách nuôi. Báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường ghi nhận mật độ ngao lúc kiểm tra từ 850 – 880 con/m2, cao hơn khuyến cáo 4 – 5 lần. Kết quả kiểm tra ấy cũng cho thấy khi khôi phục sản xuất, người nuôi cần điều chỉnh mật độ, chuẩn bị môi trường bãi nuôi, lựa chọn nguồn giống và theo dõi cảnh báo của cơ quan chuyên môn. Những khoản đầu tư mới cần được tính toán để giảm nguy cơ lặp lại mất mát của các vụ trước.
Chiều muộn trên bãi triều Ngọc Sơn, những vệt nắng cuối ngày hắt lên lớp bùn non lấp loáng. Bãi còn đó, người vẫn muốn làm. Những hỗ trợ cụ thể, kịp thời lúc này sẽ giúp người nuôi có thêm điều kiện làm lại, để trở về bãi không chỉ thu dọn vỏ ngao của vụ cũ, mà còn chăm chút cho một mùa thu hoạch mới.
Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/go-kho-cho-nguoi-nuoi-ngao-307604.htm
