Greenland sẽ trở thành 'đôi mắt' mới của Mỹ ở Bắc cực
Theo các nhà phân tích, những căn cứ quân sự mà Washington đề xuất xây dựng, cùng với việc mở rộng hiện diện quân sự tại Greenland, sẽ giống như một tấm biển “tránh xa”, nhằm ngăn chặn khả năng Trung Quốc và Nga hợp tác quân sự tại Bắc cực.

Tổng thống Mỹ Donald Trump bắt tay Thủ hiến Greenland Jens-Frederik Nielsen (phải), với sự chứng kiến của Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen (giữa), tại lễ ký thỏa thuận an ninh ở New York, ngày 22/9. (Ảnh AP)
Bắt đầu mở rộng hiện diện ngay lập tức
Ngày 22/9, Mỹ, Đan Mạch và Greenland ký thỏa thuận quốc phòng cho phép Washington xây dựng 2 căn cứ quân sự mới trên hòn đảo lớn nhất thế giới, đồng thời tái khẳng định chủ quyền của Đan Mạch đối với Greenland.
Thỏa thuận này là bản cập nhật và sửa đổi Hiệp định Quốc phòng Mỹ - Đan Mạch năm 1951. Theo đó, Mỹ được phép mở rộng và hiện đại hóa Căn cứ Lực lượng Vũ trụ Mỹ Pituffik ở phía tây bắc Greenland, đồng thời có thể thành lập thêm các căn cứ quân sự tại Narsarsuaq và Mestersvig, dù việc này vẫn cần sự chấp thuận của Greenland và Đan Mạch.
Narsarsuaq là khu dân cư thưa thớt ở miền nam Greenland, nơi có 1 sân bay dân sự cũ và từng là căn cứ không quân Mỹ cho đến khi đóng cửa vào năm 1958. Dân số nơi đây chỉ vài chục người.
Căn cứ thứ 2 dự kiến được xây dựng tại Mestersvig, thuộc phần phía đông bắc Greenland. Khu vực này hiện là nơi đóng quân của Đội Tuần tra chó kéo xe Sirius - đơn vị đặc nhiệm của Đan Mạch.
Thỏa thuận cũng kêu gọi “Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) tăng cường can dự tại Bắc cực”, đồng thời cấm các quốc gia không thuộc NATO thiết lập cơ sở quân sự có người vận hành hoặc không người vận hành tại Greenland, hoặc duy trì hiện diện quân sự tại đây. Các quốc gia khác không thể thực hiện những khoản đầu tư vào Greenland nếu không có sự đồng ý của Mỹ.
Trước lễ ký kết, Tổng thống Donald Trump cho biết Mỹ sẽ “ngay lập tức bắt đầu” quá trình mở rộng hiện diện quân sự quy mô lớn tại những địa điểm phù hợp.
Băng tan do biến đổi khí hậu đang làm gia tăng tầm quan trọng chiến lược của Bắc cực. Tuyến đường biển mới ở phía bắc dự kiến sẽ trở thành tuyến vận tải biển ngắn nhất nối khu vực châu Á - Thái Bình Dương với châu Âu.
Nằm giữa Bắc Băng Dương và Bắc Đại Tây Dương, Greenland có ý nghĩa chiến lược và địa - chính trị đối với Mỹ và các đồng minh NATO từ thời Chiến tranh Lạnh, đóng vai trò mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ trước các cuộc tấn công bằng tên lửa và hoạt động của tàu ngầm.
Greenland không chỉ nằm giữa Bắc Băng Dương - ngăn cách Bắc Mỹ với Nga, mà còn nằm ngay cạnh dải biển hẹp ở phía bắc Đại Tây Dương. Phía bên kia là Iceland và Vương quốc Anh. Khu vực này được gọi là GIUK Gap - một hành lang chiến lược mà Hải quân Nga có thể sử dụng để tiến vào vùng Đại Tây Dương rộng lớn hơn.
Mục đích đóng cửa
GS. Marc Lanteigne, công tác tại Đại học Bắc cực Na Uy, lưu ý rằng thỏa thuận mới không chỉ cho phép Mỹ mở rộng hiện diện quân sự tại Greenland mà còn có thể dẫn đến việc NATO mở rộng hiện diện.
“Những điều khoản quy định không một quốc gia nào ngoài NATO được phép thiết lập bất kỳ loại cơ sở quân sự nào tại Greenland, và các khoản đầu tư được xem là nhạy cảm về mặt chiến lược phải chịu sự kiểm soát, rõ ràng là nhằm vào Trung Quốc và Nga”, GS. Lanteigne nói.
Theo GS. Lanteigne, mặc dù nhiều nội dung trong thỏa thuận đã được quy định trong Hiệp định Quốc phòng năm 1951, mối quan tâm then chốt tại Bắc cực hiện nay là giám sát tuyến đường biển chiến lược ngoài khơi Greenland.
“Hai căn cứ mới nhiều khả năng cũng sẽ có vai trò chính trị, cho thấy Washington thực sự nghiêm túc với việc răn đe các mối đe dọa hoặc hành động xâm nhập từ bên ngoài”, ông nói.
PGS. Troy Bouffard - chuyên gia về an ninh Bắc cực tại Đại học Alaska Fairbanks, cho rằng mục tiêu của thỏa thuận này là “đóng cửa”, trước khi Trung Quốc hoặc Nga có thể tiếp cận Bắc cực.
“Narsarsuaq khôi phục 1 sân bay và nút hậu cần ở phía nam, tại đầu phía tây của GIUK Gap, còn Mestersvig mang lại cho Mỹ vị trí ở phía đông để nhận biết tình hình trong khu vực, duy trì hoạt động và tiếp cận dưới biển hướng tới eo biển Fram”, PGS. Troy Bouffard nói.
PGS. Troy Bouffard nói thêm: “Chính xác hơn, nên xem những căn cứ này là các yếu tố hỗ trợ cho sự hiện diện và hoạt động giám sát”.
Mặc dù không có lãnh thổ tại khu vực này, Trung Quốc tự mô tả mình là “quốc gia cận Bắc cực” trong báo cáo chính sách năm 2018. Bắc Kinh đồng thời tăng cường quan hệ với Nga trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, tài nguyên, tuyến hàng hải và cơ sở hạ tầng - những hoạt động có thể dẫn tới sự hiện diện quân sự ngày càng lớn của Trung Quốc trong khu vực.
Tháng 7/2024, các máy bay ném bom của Trung Quốc và Nga lần đầu tiên được phát hiện hoạt động phối hợp trong vùng trời ngoài khơi Alaska. Điều này khiến Mỹ và Canada điều các máy bay chiến đấu F-16, F-35 và CF-18 ra ngăn cản.
Cũng trong tháng đó, Tuần duyên Mỹ phát hiện 4 tàu Hải quân Trung Quốc tại biển Bering, gần quần đảo Aleutian. Tháng 10/2024, Hải cảnh Trung Quốc tiến hành cuộc tuần tra chung đầu tiên với Cảnh sát biển Nga tại Bắc cực.
Mặc dù hiện tại quân đội Trung Quốc và Nga chưa hoạt động gần vùng biển Greenland, Mỹ đã có kế hoạch đưa Greenland vào hệ thống lá chắn chống tên lửa Vòm Vàng (Golden Dome), đồng thời triển khai các cơ sở quân sự không người vận hành.
Theo GS. Lanteigne, hiện nay, hoạt động của Trung Quốc và Nga tại Bắc cực tập trung nhiều hơn vào khu vực Bắc cực Thái Bình Dương, bao gồm việc cùng phát triển "Con đường Tơ lụa vùng Cực" nối Đông Bắc Á với Bắc Âu.
Tuy nhiên, khi khu vực trung tâm Bắc cực ngày càng đóng vai trò lớn hơn với giao thông hàng hải do băng tan, nhu cầu giám sát các hoạt động quân sự tại Bắc cực được NATO xem là cấp thiết hơn.
PGS. Bouffard cho rằng lợi ích chiến lược của việc Mỹ tăng cường hiện diện quân sự ở Greenland là “giảm cơ hội” Trung Quốc và Nga “khai thác những khoảng trống trong hoạt động giám sát”, đồng thời giúp Mỹ và các đồng minh có thêm thời gian cảnh báo và nhiều lựa chọn hơn để ứng phó.
“Điều đó có thể khiến sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa Trung Quốc và Nga khó chuyển hóa thành lợi thế hoặc cơ hội quân sự tại khu vực này”, PGS. Troy Bouffard nói.



