Hà Nội số hóa hạ tầng ngầm và triển khai kỷ luật 'đào một lần'
Đến hẹn lại lên vào dịp cận Tết, điệp khúc đào đường, xén vỉa hè tại Hà Nội lại xuất hiện trên nhiều tuyến phố Thủ đô, như một món 'đặc sản' không thể thiếu của phố phường, khiến nhiều người dân ngao ngán bởi bụi bặm, rào tôn và ô nhiễm môi trường.
Điệp khúc đường “đào lên - lấp xuống” lặp đi lặp lại nhiều năm qua không chỉ gây bức xúc dư luận, cản trở giao thông, ảnh hưởng sinh hoạt, mà còn cho thấy nghịch lý trong phát triển đô thị manh mún, lạc hậu và thiếu kết nối.
Quản trị đô thị rời rạc
Chia sẻ với phóng viên báo Tin tức và Dân tộc, Ths., chuyên gia giao thông Lê Trung Hiếu nhận định, quan sát vỉa hè và lòng đường Hà Nội hiện nay dễ nhận ra thực tế đáng lo ngại là nhiều tuyến phố vừa được thảm nhựa phẳng phiu, vừa được lát đá tự nhiên có “tuổi thọ trăm năm”, chỉ ít lâu sau đã bị cắt xẻ chằng chịt không thương tiếc, khiến đường phố loang lổ như những “tấm áo vá”.

Bên dưới lớp nhựa đường là mạng lưới dây cáp, đường ống chồng chéo như “mê cung”, hệ quả của tư duy hạ ngầm manh mún.
Nếu thực hiện một cuộc “giải phẫu” dưới lòng đường ở khu vực trung tâm, có thể thấy một hạ tầng chồng xếp hỗn độn, gồm lớp nhựa đường, đường ống dẫn, cáp điện, cáp viễn thông... cũ mới đan xen, không theo tiêu chuẩn kỹ thuật chuẩn mực nào.
Đây là hệ quả của quá trình hạ ngầm điện, viễn thông được triển khai theo tư duy “ăn đong”, làm đến đâu hay đến đó. Dây được chôn xuống đất, nhưng hạ tầng kỹ thuật ngầm đồng bộ chưa được xây dựng tương xứng. Giải pháp phổ biến hiện nay vẫn là đào rãnh, đặt ống xoắn HDPE mỏng (thường gọi là ống ruột gà), lấp lại, đến hẹn tiếp tục đào lên...
Nguyên nhân cốt lõi khiến Hà Nội rơi vào vòng lặp đào đường gần như vô tận nằm ở tư duy thiết kế thiếu tầm nhìn dài hạn. Ở nhiều quốc gia phát triển, hạ tầng ngầm được xây dựng theo nguyên lý “xây một lần cho vài chục năm”. Họ thiết kế các hành lang kỹ thuật với tuổi thọ từ 30 –50 năm, trong đó cáp chỉ là phần có thể thay thế, còn hệ thống ống và kết cấu bảo vệ là phần “xương sống” bền vững.
Ths. Lê Trung Hiếu nhấn mạnh, theo chuẩn quốc tế, thay vì dùng ống ruột gà rời rạc, nhiều nước xây dựng hệ thống ống cứng bằng HDPE hoặc PVC chất lượng cao, đặt thẳng tuyến, có lớp đệm cát hoặc bê tông bảo vệ, kèm băng cảnh báo phía trên. Đặc biệt, ngay từ đầu, các tuyến này luôn được bố trí sẵn 30–50% ống dự phòng để đáp ứng nhu cầu phát sinh trong tương lai.
Ngược lại, tại Hà Nội, do thiếu ống dự phòng, mỗi khi xuất hiện thêm một nhà mạng, một tuyến cáp mới hay đơn giản là nhu cầu tăng dung lượng cáp quang, phương án gần như duy nhất vẫn là xin giấy phép đào đường... Hệ quả là cùng một tuyến phố có thể bị đào đi đào lại nhiều lần trong vài năm, gây lãng phí lớn nguồn lực xã hội và làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng kết cấu hạ tầng.
Một bất cập khác là sự thiếu hụt các điểm tiếp cận kỹ thuật đạt chuẩn như hố ga hay hố kéo cáp. Theo tiêu chuẩn kỹ thuật, cứ một khoảng cách nhất định phải bố trí hố để kỹ thuật viên có thể tiếp cận, kiểm tra, kéo cáp hoặc xử lý sự cố, không cần động chạm đến mặt đường.
Ở nhiều đô thị hiện đại, bảo trì hạ tầng ngầm chỉ đơn giản là mở nắp hố, thao tác bên dưới và đóng lại. Trong khi tại Việt Nam, do hố kỹ thuật thưa thớt hoặc không có, khi xảy ra sự cố hoặc cần thay cáp, công nhân buộc phải đào đường dài hàng chục mét để “tìm” vị trí xử lý. Chưa kể, quá trình thi công thiếu kiểm soát, không kiểm tra độ thông suốt của ống bằng dây mồi trước khi lấp đất, khiến nhiều tuyến ống bị bẹp, ngập nước. Đến lúc cần sử dụng, phương án duy nhất lại là phá lớp nhựa, đào lại từ đầu...
Về quản trị, sự thiếu phối hợp giữa các đơn vị hạ tầng cũng đang là "điểm nghẽn" lớn. Điện lực, viễn thông, cấp thoát nước, chiếu sáng đô thị… mỗi đơn vị một kế hoạch vốn, một tiến độ, gần như vận hành độc lập. Không hiếm cảnh đơn vị này vừa tái lập mặt đường, đơn vị khác lại tiếp tục đào lên. Dẫn đến tình trạng mất mỹ quan đô thị, ùn tắc giao thông kéo dài, phá vỡ kết cấu nền đường. Các vết cắt ngang dọc tạo điều kiện cho nước thấm vào nền móng, làm suy yếu kết cấu chịu lực. Tuổi thọ thiết kế của một tuyến đường vốn khoảng 15 năm có thể bị rút ngắn xuống chỉ còn 3–5 năm, kéo theo chi phí đại tu, sửa chữa khổng lồ cho ngân sách Nhà nước...

Ths., chuyên gia giao thông Lê Trung Hiếu chia sẻ với phóng viên báo Tin tức và Dân tộc.
Số hóa hạ tầng ngầm và thực hiện kỷ luật “đào một lần”
Để chấm dứt điệp khúc đào đường, Ths. Lê Trung Hiếu nhạn định, Hà Nội cần một cuộc cải cách thực chất, bắt đầu từ tiêu chuẩn kỹ thuật. Trước hết, phải luật hóa việc sử dụng hệ thống ống cứng đạt chuẩn và bắt buộc có tỷ lệ ống dự phòng tối thiểu. Công tác nghiệm thu hạ tầng ngầm không thể chỉ dừng ở bề mặt, mà phải kiểm tra đầy đủ độ thông suốt của ống, dây mồi và khả năng khai thác lâu dài.
Song song với đó, thành phố cần thúc đẩy áp dụng các công nghệ tiên tiến như thổi cáp quang bằng khí. Với công nghệ này, khi cần mở rộng dung lượng, kỹ thuật viên chỉ việc thổi sợi quang mới vào các ống siêu nhỏ đã đặt sẵn, không cần đào bới, không tiếng ồn, không bụi bặm.
Với lĩnh vực điện lực, việc xây dựng các hầm cáp kiên cố, kết hợp trạm ngắt mạch vòng sẽ cho phép cô lập sự cố tại chỗ, thay vì phải phá dỡ vỉa hè trên diện rộng.
Một giải pháp mang tính nền tảng là số hóa toàn bộ hạ tầng ngầm bằng hệ thống GIS. Khi mọi tuyến ống, dây cáp được định vị chính xác trên bản đồ số (từ độ sâu, vật liệu đến thời điểm lắp đặt), việc khoanh vùng sự cố sẽ trở nên nhanh chóng, chính xác, hạn chế tối đa đào thăm dò và nguy cơ đào nhầm.
Quan trọng hơn, Hà Nội cần thực thi nghiêm nguyên tắc “đào một lần”. Thành phố phải đóng vai trò nhạc trưởng, điều phối kế hoạch hạ ngầm của tất cả các đơn vị vào cùng một giai đoạn. Những đơn vị không tham gia sẽ bị hạn chế cấp phép đào đường trong nhiều năm tiếp theo, trừ trường hợp khẩn cấp và phải chịu chi phí tái lập mặt đường ở mức cao để bảo đảm tính răn đe.
Hạ tầng ngầm chính là "mạch máu" của đô thị hiện đại. Bảo vệ sự toàn vẹn của mặt đường, vỉa hè không chỉ là câu chuyện kỹ thuật, mà là bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân. Chỉ khi hạ tầng ngầm được nhìn nhận là khoản đầu tư chiến lược dài hạn, được xây dựng một lần cho nhiều thập kỷ và quản trị bằng dữ liệu khoa học, khi đó Thủ đô mới thực sự tiến gần hơn tới mục tiêu Sáng – Xanh – Sạch – Đẹp.












