Hạn mặn mùa khô 2025 - 2026 ở ĐBSCL: Những cảnh báo sớm và giải pháp chủ động
Trước thềm cao điểm mùa khô 2025–2026, Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với TS Đặng Thanh Lâm, Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam, nhằm làm rõ bức tranh hạn mặn năm nay, các khu vực chịu ảnh hưởng nặng và những giải pháp cần triển khai để giảm thiểu rủi ro.
- Xin TS cho biết tình hình hạn mặn các tỉnh ĐBSCL trong mùa khô năm 2025–2026? So với hạn mặn các năm trước, tình hình năm nay có gì mới?
TS. Đặng Thanh Lâm: Theo số liệu quan trắc mặn đầu mùa khô trên sông chính vùng ĐBSCL trong tháng 1.2026, mặn đã tăng cao nhất trong kỳ triều cường 14-17.1. Mặn xuất hiện muộn hơn khoảng 20 ngày so với cùng kỳ mùa khô năm 2024-2025. Ranh mặn 4‰ đã vào sâu từ 36-40 km, cao hơn trung bình những năm (TBNN) từ 2-3 km, nhưng thấp hơn cùng kỳ 2025 và thấp hơn khá nhiều so với cùng kỳ mùa khô 2016, 2020. Các nguyên nhân chính làm mặn xuất hiện muộn và ở mức tương đối thấp là do nền nước cuối lũ năm 2025 trên dòng chính sông Mê Công tại Kratie, dung tích Biển Hồ và nền nước nội vùng ĐBSCL duy trì ở mức cao (cao hơn khá nhiều TBNN và các năm gần đây) và mưa trái mùa xuất hiện khá nhiều vào 2 tháng đầu mùa khô năm 2025-2026.
Nhận định diễn biến mặn từ nay đến cuối mùa khô: Nguồn nước về ĐBSCL dự báo tiếp tục có xu thế giảm trong tháng 2 cho đến hết tháng 4.2026, nhưng vẫn ở mức cao hơn TBNN, cao hơn mùa khô năm 2025. Xâm nhập mặn tại các cửa sông vùng ĐBSCL được nhận định tiếp tục tăng từ tháng 2 đến tháng 4.2026 và ở mức cao hơn TBNN và có khả năng xấp xỉ hoặc cao hơn cùng kỳ năm 2025, nhưng ở mức thấp hơn khá nhiều so với các năm 2016, 2020. Mặn cao nhất mùa khô được nhận định rơi vào kỳ triều cường giữa đến cuối tháng 3.2026.

Hạn mặn ảnh hưởng nặng các tỉnh ven biển ĐBSCL mùa khô 2023 - 2024 - Ảnh: L.X.C
Một điểm mới so với các năm trước là tác động tổng hợp của nhiều yếu tố: Biến đổi khí hậu nước biển dâng ngày càng diễn ra gay gắt; cùng với sự thay đổi chế độ vận hành các hồ chứa ở thượng nguồn Mê Công. Lòng dẫn tiếp tục bị hạ thấp, hiện tượng ENSO (là hiện tượng biến động khí hậu tự nhiên ở đường Xích đạo) đang chuyển nhanh từ trạng thái La Nina sang Trung tính là yếu tố làm nhiệt độ có thể sẽ tăng mạnh từ nay đến cuối mùa khô. Những yếu tố này khiến ranh mặn có xu hướng xâm nhập sâu hơn vào nội đồng trong các đợt triều cường cao, đặc biệt tại các cửa sông lớn. Ngoài ra, quá trình đô thị hóa và phát triển hạ tầng đặc biệt ở vùng ven biển ĐBSCL cũng làm thay đổi điều kiện trữ nước ngọt tự nhiên.
- Xin TS cho biết các tỉnh nào trong vùng ĐBSCL sẽ bị ảnh hưởng hạn mặn nặng? Mức độ xâm nhập mặn vào sâu trong đất liền?
TS. Đặng Thanh Lâm: Theo nhận định xâm nhập mặn như trên, các tỉnh ven biển vẫn là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của xâm nhập mặn trong mùa khô 2025–2026. Cụ thể, các địa phương như: Vĩnh Long, Cà Mau, An Giang cần đặc biệt lưu ý.
Tại các cửa sông chính như sông Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên, sông Hậu và sông Vàm Cỏ, ranh mặn 4‰ – ngưỡng mặn ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và cấp nước sinh hoạt – có thể xâm nhập sâu từ 55 đến 65 km, thậm chí có thời điểm vào sâu hơn trong các đợt triều cường kết hợp dòng chảy thượng nguồn suy giảm.
Đối với tỉnh Vĩnh Long, nguy cơ mặn xâm nhập bao phủ hầu hết các nhánh sông lớn trong những tháng cao điểm mùa khô. Các tỉnh ven biển bán đảo Cà Mau tuy có lợi thế về hệ sinh thái mặn – lợ, nhưng vẫn đối mặt với nguy cơ thiếu nước ngọt cục bộ phục vụ sinh hoạt và nuôi trồng thủy sản nước ngọt.
- Thưa TS, gỉai pháp nào để hạn chế và giảm thiểu rủi ro do hạn mặn năm nay?
TS. Đặng Thanh Lâm: Để chủ động ứng phó và giảm thiểu rủi ro do hạn mặn trong mùa khô 2025–2026, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp, từ công trình đến phi công trình, từ ngắn hạn đến dài hạn.
Trước hết, về giải pháp công trình, cần tiếp tục vận hành linh hoạt, hiệu quả các hệ thống thủy lợi kiểm soát mặn – trữ ngọt đã được đầu tư trong thời gian qua, như hệ thống cống ven biển, đê bao và các công trình điều tiết liên vùng. Việc theo dõi sát diễn biến mặn theo thời gian thực để đóng, mở cống hợp lý là yếu tố then chốt nhằm tận dụng tối đa các đợt nước ngọt hiếm hoi trong mùa khô.

Hạn mặn dân ven biển Sóc Trăng tiêu nước sinh hoạt năm 2023 - Ảnh: L.H.V
Song song với đó, các địa phương cần tăng cường nạo vét kênh mương, khơi thông dòng chảy, gia tăng khả năng trữ nước ngọt trong nội đồng, ao hồ, kênh rạch. Đối với khu vực nông thôn và vùng ven biển, cần chủ động các giải pháp cấp nước sinh hoạt an toàn, như trữ nước mưa, sử dụng bồn chứa tập trung, hoặc các mô hình cấp nước quy mô nhỏ phù hợp điều kiện địa phương.
Về giải pháp phi công trình, công tác dự báo, cảnh báo sớm đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Các bản tin dự báo hạn mặn cần được cập nhật thường xuyên, truyền tải kịp thời đến chính quyền cơ sở, người dân và doanh nghiệp để chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, cần tiếp tục thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện mặn – lợ, giảm phụ thuộc vào nước ngọt trong những vùng rủi ro cao. Các mô hình canh tác thích ứng như tôm – lúa, cây ăn trái chịu mặn, hay nông nghiệp sinh thái cần được nhân rộng trên cơ sở khoa học và thực tiễn địa phương.
Về dài hạn, ĐBSCL cần được quy hoạch phát triển theo tư duy “thuận thiên”, coi hạn mặn là một đặc trưng tự nhiên cần thích ứng, thay vì chỉ tìm cách ngăn chặn tuyệt đối. Đầu tư khoa học – công nghệ trong quan trắc, mô phỏng thủy văn, quản lý tài nguyên nước và nâng cao năng lực cộng đồng sẽ là nền tảng quan trọng để vùng đồng bằng phát triển bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu.
- Xin trân trọng cảm ơn TS. Đặng Thanh Lâm.












