Hạn, mặn mùa khô 2026 - 2027 dự báo diễn biến phức tạp
(ĐTP) Chiều 9-10, tại Đồng Tháp, Cục Trồng trọt và Bảo vệ môi trường phối hợp với Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp tổ chức Hội nghị sơ kết công tác sản xuất trồng trọt và phòng, chống hạn, mặn năm 2026; triển khai kế hoạch năm 2027 vùng Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Dự hội nghị có các đồng chí: Bùi Bá Bổng, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Dương Quốc Huy, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ môi trường; Nguyễn Hồng Khanh; Phó Cục trưởng Cục Xây dựng công trình thủy lợi; Nguyễn Phước Thiện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp.

Đồng chí Dương Quốc Huy, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ môi trường, phát biểu tại hội nghị.
Năm 2026, diện tích gieo trồng lúa tại ĐBSCL và Đông Nam bộ giảm so với năm trước, dù năng suất bình quân tăng. Sản lượng lúa toàn vùng ước đạt 25,97 triệu tấn, giảm 67,9 ngàn tấn so với năm 2025.
Sang năm 2027, diện tích và sản lượng lúa dự kiến tiếp tục giảm, trong bối cảnh nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn gia tăng trong mùa khô.
Theo số liệu tổng hợp, năm 2026, tổng diện tích gieo trồng lúa các vụ tại ĐBSCL và Đông Nam bộ ước trên 4.038 ngàn ha, giảm trên 94 ngàn ha so với năm 2025. Năng suất bình quân trên 64 tạ/ha, tăng 1,3 tạ/ha; sản lượng gần 25.969 ngàn tấn, giảm gần 68 ngàn tấn.
Trong đó, tại ĐBSCL, diện tích gieo trồng lúa giảm trên 71 ngàn ha, năng suất tăng 1,3 tạ/ha, giúp sản lượng chỉ giảm 6,7 ngàn tấn. Tại Đông Nam bộ, diện tích giảm trên 23 ngàn ha, năng suất tăng gần 1 tạ/ha nhưng sản lượng vẫn giảm trên 61 ngàn tấn. Nhìn chung, năng suất tăng đã bù đắp phần lớn tác động của việc giảm diện tích, song chưa đủ để duy trì sản lượng như năm trước.
Theo kế hoạch năm 2027, tổng diện tích gieo trồng lúa tại 2 vùng dự kiến đạt hơn 3.987 ngàn ha, giảm trên 50 ngàn ha so với ước thực hiện năm 2026. Năng suất bình quân dự kiến đạt 64,5 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha; sản lượng đạt gần 25.712 ngàn tấn, giảm 257 ngàn tấn. Riêng ĐBSCL dự kiến giảm trên 37 ngàn ha diện tích gieo trồng và giảm gần 200 ngàn tấn sản lượng.

Đại biểu dự hội nghị.
Bên cạnh cây lúa, cơ cấu giống tiếp tục chuyển dịch theo hướng nâng cao chất lượng; cây ăn quả và một số cây hằng năm duy trì tăng trưởng. Diện tích cây ăn quả chính toàn vùng đạt 679 ngàn ha, tăng 9,6 ngàn ha so với năm 2025; diện tích cho thu hoạch trên 587 ngàn ha, với tổng sản lượng trên 10.780 ngàn tấn, tăng 300 nghìn tấn so với năm trước.
Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp vẫn đối mặt với nhiều khó khăn như thời vụ lúa có xu hướng dịch chuyển muộn qua các vụ, liên kết sản xuất và tiêu thụ chưa bền vững, hạ tầng và logistics chưa đồng bộ. Hệ thống dữ liệu và tổ chức chuyên ngành sau sắp xếp cũng còn một số bất cập, ảnh hưởng đến công tác quản lý và tổ chức sản xuất.
Đáng chú ý, theo nhận định, hiện tượng El Niño có xu hướng duy trì từ cuối năm 2026 sang đầu năm 2027, nhiệt độ phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm. Lượng mưa trong mùa khô có khả năng thiếu hụt, làm gia tăng nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn, nhất là trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 6-2027. Do đó, việc bố trí thời vụ cần linh hoạt theo khả năng cung cấp nước, đồng thời chủ động các giải pháp phòng, chống hạn hán và xâm nhập mặn vào cuối vụ.
Đối với sản xuất lúa đông xuân 2026 - 2027, một trong những khu vực có nguy cơ chịu tác động của hạn, mặn là hệ thống thủy lợi Gò Công, tỉnh Đồng Tháp, với diện tích khoảng 20 nghìn ha.
Đối với cây ăn quả, khoảng 45 nghìn ha tại các vùng ven biển có nguy cơ thiếu nước tưới trong mùa khô khi xâm nhập mặn tiến sâu vào nội đồng.
Ngoài nguy cơ hạn, mặn trong mùa khô, tình hình lũ tại ĐBSCL trong năm 2026 cũng cần được theo dõi chặt chẽ. Riêng khu vực Đồng Tháp Mười, mực nước lũ còn duy trì ở mức cao, tiềm ẩn nguy cơ tràn, vỡ các bờ bao thấp từ nay đến cuối tháng 10. Các địa phương cần chú ý theo dõi diễn biến mực nước tại những khu ô bao có cao trình thấp, kịp thời triển khai phương án gia cố các vị trí có nguy cơ mất an toàn.
Trọng điểm là các xã Tháp Mười, Trường Xuân thuộc tỉnh Đồng Tháp và các xã Tân Hưng, Vĩnh Hưng thuộc tỉnh Tây Ninh. Nguy cơ mất an toàn bờ bao xuất phát từ việc lũ đầu nguồn đổ về kết hợp với mưa lớn trong những ngày tới, có thể ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân.
Đối với mùa khô năm 2026 - 2027, dự báo xâm nhập mặn tại ĐBSCL có thể cao hơn trung bình nhiều năm và cao hơn mùa khô năm 2025 - 2026, với mức độ có khả năng tương đương mùa khô năm 2015 - 2016. Nguồn nước về đồng bằng được dự báo thuộc nhóm năm ít nước, xấp xỉ năm 2015 - 2016, một số thời kỳ có thể tương tự năm 2019 - 2020; tình trạng xâm nhập mặn có khả năng diễn biến nghiêm trọng.
Thời gian xâm nhập mặn có thể bắt đầu ảnh hưởng từ cuối tháng 12-2026, cao điểm trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 4-2027. Trước diễn biến này, các địa phương cần chủ động rà soát nguồn nước, điều chỉnh lịch thời vụ phù hợp, củng cố hệ thống thủy lợi, chuẩn bị phương án trữ nước ngọt và tăng cường hướng dẫn người dân bảo vệ diện tích sản xuất, nhất là lúa và cây ăn quả có giá trị kinh tế cao.

Đồng chí Bùi Bá Bổng, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phát biểu tại hội nghị.
Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Dương Quốc Huy đề nghị phải chủ động né hạn, mặn ngay từ đầu vụ; bố trí đúng giống, đúng vùng, đúng mùa vụ; sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; ưu tiên bảo vệ diện tích sản xuất hiện có, nhất là các vùng cây lâu năm có giá trị cao; đồng thời, tổ chức sản xuất phải gắn với nhu cầu thị trường. Nơi nào chưa cân đối được nước đến cuối vụ thì không được xuống giống bằng mọi giá, không mở rộng diện tích và không xử lý ra hoa trái vụ khi chưa bảo đảm nguồn nước cho toàn bộ chu kỳ sản xuất.
Đối với các địa phương, cần tranh thủ tối đa các thời điểm có nước ngọt để lấy và trữ nước; rà soát, nạo vét kinh mương, ao trữ, củng cố bờ bao, cống kiểm soát mặn; tổ chức kiểm tra độ mặn trước khi lấy nước. Với các vùng cây ăn quả mẫn cảm với mặn, việc kiểm soát chất lượng nước phải được thực hiện chặt chẽ hơn, tuyệt đối tránh lấy nước không bảo đảm vào vườn.
Đồng chí Dương Quốc Huy đề nghị Viện Cây ăn quả miền Nam tiếp tục hoàn thiện các hướng dẫn kỹ thuật ngắn gọn, dễ áp dụng theo từng nhóm cây và vùng rủi ro; làm rõ khi nào phải dừng lấy nước, cách trữ và tưới nước, biện pháp chăm sóc khi thiếu nước và quy trình phục hồi vườn sau hạn, mặn; đồng thời, phối hợp trực tiếp với địa phương tại các vùng nguy cơ cao.
Đồng chí Dương Quốc Huy đề nghị các tỉnh, thành phố không xây dựng theo một kịch bản duy nhất. Mỗi địa phương cần chủ động xây dựng tối thiểu 2 kịch bản ứng phó, gồm kịch bản nguồn nước bình thường và kịch bản hạn hán, xâm nhập mặn diễn biến bất lợi. Sau sáp nhập tỉnh, việc xây dựng kịch bản cần thực hiện riêng cho từng vùng, phù hợp với đặc điểm và điều kiện thực tế, thay vì xây dựng một kịch bản chung cho toàn tỉnh. Trong từng kịch bản phải xác định rõ diện tích, thời vụ, cơ cấu giống hoặc cây trồng, nhu cầu nước, khu vực phải giảm diện tích hoặc chuyển đổi và giải pháp bảo vệ cây lâu năm. Chúng ta không đặt mục tiêu tăng diện tích bằng mọi giá; trọng tâm là bảo đảm năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế và an toàn sản xuất.

