Hé lộ bảo tàng đặc biệt lưu giữ hơn 300 cổ vật quý giá

Các nhà nghiên cứu ghi nhận Kim Lan là di tích hiếm hoi lưu giữ liên tục chuỗi di vật kéo dài suốt 1.000 năm lịch sử, từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVII.

Nằm yên bình bên tả ngạn sông Hồng, sát cạnh một Bát Tràng sầm uất và vang danh, làng gốm cổ Kim Lan mang trong mình trầm tích nghìn năm. Trải qua bao dâu bể thăng trầm, nơi đây vẫn lưu giữ một ngọn lửa di sản chưa từng tắt - ngọn lửa được nuôi dưỡng bằng phù sa cổ xưa và tâm huyết cháy bỏng của những con người suốt đời nặng lòng với cội nguồn.

Đất lành bên sông Hồng

Nói đến những làng gốm cổ danh tiếng của vùng đất Thăng Long xưa, người ta thường nhớ ngay đến Bát Tràng. Nhưng ít ai biết rằng chỉ cách Bát Tràng một con đê nhỏ về phía Bắc, đối diện với những điểm cư trú cổ vùng Thanh Trì qua lòng sông, còn một ngôi làng mang tên Kim Lan - một trong những trung tâm sản xuất gốm sứ cổ truyền xuất hiện sớm nhất tại hạ lưu châu thổ sông Hồng.

 Mô hình lò bầu - loại lò gốm cổ trước kia đang được trưng bày tại Bảo tàng gốm Kim Lan.

 Mô hình lò bầu - loại lò gốm cổ trước kia đang được trưng bày tại Bảo tàng gốm Kim Lan.

Tọa lạc tại vị trí địa - kinh tế chiến lược kết nối kinh thành Thăng Long với biển Đông, Kim Lan được thiên nhiên ưu ái ban tặng nguồn phù sa dồi dào và những vỉa đất sét chất lượng cao ven sông. Từ đất sét xanh, đất sét trắng, đất sét đỏ cho đến đất sét xám, tất cả hội tụ tạo điều kiện tự nhiên tối ưu để cư dân sớm phát triển nghề làm đất nung và gốm men. Trong các văn bản cổ, địa danh Bạch Thổ Thôn từng xuất hiện như một lời xác nhận về mỏ đất sét trắng quý giá, nguồn nguyên liệu vàng cho những sản phẩm gốm cao cấp thời bấy giờ.

Kim Lan xưa vốn được chia thành 16 xóm cổ. Do đặc thù địa hình ven sông thường xuyên bị dòng chảy xoáy mòn, xóm Và và xóm Dụ đã bị dòng nước cuốn trôi hoàn toàn qua những biến động thủy văn qua nhiều thế kỷ. Các xóm còn lại phân định rõ ràng chức năng kinh tế, trong đó xóm Bến, xóm Bệ, xóm Chùa và xóm Triền là nơi đặt các lò gốm, tập kết củi đóm và chế biến phôi đất sét.

Nghề gốm Kim Lan được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Nghề gốm Kim Lan được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Nghề gốm Kim Lan trao truyền qua nhiều thế hệ phụ thuộc chặt chẽ vào các dòng họ lớn như họ Đỗ, họ Đinh, họ Nguyễn và họ Đào. Hương ước và gia phả làng quy định nghiêm ngặt việc bảo mật công nghệ. Kỹ thuật phối chế bài men, cách tạo hình trên bàn xoay và bí quyết canh lửa lò nung chỉ được truyền dạy cho con trai và con gái, con dâu trong tộc họ. Lao động thuê mướn từ bên ngoài thường chỉ được giao các công đoạn cơ bắp như đào đất, gánh phôi hay vận chuyển nguyên liệu.

Lịch sử của làng gốm không phải lúc nào cũng yên bình. Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, sự cạnh tranh gay gắt về công nghệ gốm hoa lam xuất khẩu của các trung tâm lân cận, cùng sự bồi lắng, xói lở phức tạp của dòng sông Hồng đã làm đảo lộn cấu trúc sản xuất tại Kim Lan. Nghề gốm có giai đoạn đứt gãy.

Thế nhưng cộng đồng cư dân nơi đây đã chuyển hướng sinh kế vô cùng linh hoạt. Đất đai bãi bồi ven sông được chuyển sang trồng dâu nuôi tằm và ngô khoai. Nguồn thu nhập mới từ nông nghiệp và thương mại nhẹ lại tạo tiền đề vững chắc cho cư dân đầu tư vào học vấn khoa cử. Đó chính là lý do vì sao trong thế kỷ XVIII và XIX, tuy nghề gốm chững lại nhưng Kim Lan lại xuất hiện Tiến sĩ Đinh Nguyên Hanh cùng 48 vị Tiên hiền đỗ đạt, để lại nhiều văn bia và chuông đồng quy mô lớn tại các chùa miếu.

Ông Nguyễn Việt Hồng (90 tuổi) dành cả đời gắn bó với gốm.

Ông Nguyễn Việt Hồng (90 tuổi) dành cả đời gắn bó với gốm.

Kể từ cuối thế kỷ XX, ngọn lửa lò gốm bắt đầu được hồi sinh nhờ nỗ lực của những thợ thủ công cao niên như cụ Nguyễn Văn Nhung từ năm 1977. Nhưng để câu chuyện nghìn năm bước ra ánh sáng, không thể không nhắc đến hành trình lặng lẽ của ông Nguyễn Việt Hồng (90 tuổi).

Sinh ra và lớn lên tại xóm Chùa trong tiếng bàn xoay lách cách và mùi khói lò gốm đượm nồng, ông Hồng sớm mang trong mình tình yêu tha thiết với đất và lửa. Sau nhiều năm giữ chức giám đốc phân xưởng tại Xí nghiệp sứ Bát Tràng, khi nghỉ hưu vào năm 1983, ông trở về quê nhà với một đau đáu về cội nguồn của làng nghề Kim Lan.

Bất chấp những lời xầm xì bảo ông "gàn dở" khi ngày ngày lang thang dọc bãi Hàm Rồng bên sông Hồng nhặt từng mảnh bát vỡ, viên gạch mục hay đồng tiền cũ, ông Hồng vẫn miệt mài làm việc. Với ông, những mảnh vỡ kia không phải là vật bỏ đi mà là chứng nhân lặng lẽ cho sự tài hoa của cha ông qua hàng trăm năm. Nhờ kiến thức gốm sứ và khả năng đọc hiểu chữ Hán, ông đã tự tay xác định niên đại, cẩn trọng ghi chép thông tin từng hiện vật và dựng lại bức tranh toàn cảnh về lịch sử làng gốm.

Từ những phát hiện ban đầu ấy, Viện Khảo cổ học năm 2001 và Bảo tàng Lịch sử Quốc gia năm 2003 đã về khai quật chính thức. Các nhà nghiên cứu ghi nhận Kim Lan là di tích hiếm hoi lưu giữ liên tục chuỗi di vật kéo dài suốt 1.000 năm lịch sử, từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVII.

Bàng tàng lưu giữ hồn gốm cổ

Không dừng lại ở việc nghiên cứu, ước mơ lưu giữ di sản cho mai sau đã trở thành hiện thực khi Bảo tàng gốm sứ Kim Lan (Bảo tàng Khảo cổ học cộng đồng Kim Lan) chính thức ra đời năm 2012. Đây là thiết chế bảo tàng cấp xã đầu tiên của Việt Nam do chính cộng đồng tự quản lý.

Bảo tàng gốm Kim Lan hiện là nơi lưu giữ hơn 300 cổ vật quý giá.

Bảo tàng gốm Kim Lan hiện là nơi lưu giữ hơn 300 cổ vật quý giá.

Bảo tàng hiện là nơi lưu giữ hơn 300 cổ vật quý giá, là không gian giáo dục, truyền cảm hứng về truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ. Nơi đây còn ghi dấu câu chuyện cảm động về Tiến sĩ Nishimura Masanari, nhà khảo cổ học người Nhật Bản đã dành trọn tình yêu cho gốm Kim Lan. Sau sự ra đi đột ngột của ông vào năm 2013, di hài của ông được an táng tại nghĩa trang xã Kim Lan theo nguyện vọng gắn bó mãi mãi với vùng đất di sản này.

Đã có nhiều người trả giá cao để mua lại những cổ vật trong bộ sưu tập nhưng ông Nguyễn Việt Hồng chưa bao giờ lung lay. Với ông và người dân nơi đây, những món đồ ấy là hồn cốt của cha ông, những mảnh gốm vỡ biết nói câu chuyện của nghìn năm trước.

Tình Lê

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/bao-tang-luu-giu-hon-gom-nghin-nam-tuoi-2563670.html