Hiện thực hóa khát vọng 100 năm vì Nhân dân, vì con người
Chưa đầy hai thập niên nữa, Việt Nam sẽ bước tới dấu mốc 100 năm thành lập nước (1945-2045). Từ khát vọng độc lập, tự do của mùa thu năm 1945 đến mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 là một hành trình cách mạng đầy thác ghềnh nhưng cũng rất đỗi vẻ vang, luôn kiên trì, kiên định mục tiêu vì độc lập, tự do cho đất nước, vì hạnh phúc của Nhân dân.

Người dân Thanh Hóa thưởng thức chương trình nghệ thuật “Thanh Hóa hòa nhịp cùng non sông”, màn pháo hoa rực rỡ chào mừng Ngày Quốc khánh. Ảnh: Hoàng Đông
Một thế kỷ - mạch nguồn khát vọng vì hạnh phúc của Nhân dân
Mùa thu năm 1945, trong bản Tuyên ngôn Độc lập đọc tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định những quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Từ dấu mốc ấy, khát vọng của một dân tộc vừa nhất tề đứng lên giành độc lập đã trở thành động lực lớn lao để Việt Nam vượt qua chiến tranh, nghèo đói, đổi mới, hội nhập và phát triển.
Nhà báo Nhị Lê, nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, cho rằng đối với một đời người, điều làm nên sức sống không chỉ là tuổi tác hay sức vóc mà chính là khát vọng. Với một quốc gia, dân tộc cũng vậy. Khát vọng chính là nguồn lực tinh thần để một dân tộc vươn lên và trường tồn. Có một sợi dây xuyên suốt lịch sử hiện đại Việt Nam trong suốt gần thế kỷ qua đó là khát vọng về một đất nước độc lập, tự do và Nhân dân được sống trong ấm no, hạnh phúc.
Khát vọng ấy đã dẫn lối cho dân tộc Việt Nam thực hiện thành công công cuộc đổi mới từ năm 1986: chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mở rộng quan hệ đối ngoại; khơi thông nguồn lực xã hội; việc làm, thu nhập và đời sống của người dân từng bước được cải thiện. Những thành tựu ấy tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới. Nhưng cho đến hôm nay, một lần nữa dân tộc ta đang đứng trước một bước ngoặt mới, cần tiếp tục đổi mới tư duy một cách đồng bộ, toàn diện hơn để đáp ứng yêu cầu mới trong thời đại mới.
PGS.TS Bùi Quang Tuấn, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam thông tin: theo chuẩn của Ngân hàng Thế giới năm 2024, ngưỡng thu nhập cao là khoảng 14.005 USD/người/năm. Để đạt mục tiêu vào năm 2045, GNI bình quân đầu người của Việt Nam cần tăng khoảng ba lần so với hiện nay. Đây là thách thức không nhỏ khi Việt Nam đã bước vào quá trình già hóa dân số từ năm 2011 và dự báo trở thành quốc gia có dân số già vào khoảng năm 2036. Trong bối cảnh đó, nếu chỉ tiếp tục huy động thêm vốn, lao động hoặc khai thác tài nguyên thì khó có thể tạo ra một chu kỳ tăng trưởng mới. Việt Nam cần một năng lực phát triển khác - dựa nhiều hơn vào năng suất, tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đó cũng là lý do đổi mới mô hình phát triển trở thành yêu cầu có tính chiến lược.
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng từ tư duy đổi mới mô hình tăng trưởng sang đổi mới mô hình phát triển quốc gia một cách tổng thể, đồng bộ và dài hạn. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là điều chỉnh tăng trưởng, mà là đổi mới cách tạo ra, phân bổ và thụ hưởng thành quả phát triển; lấy Nhân dân và con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực”. Đây là điểm khác biệt quan trọng về tư duy. Thành công của phát triển không chỉ nằm ở việc nền kinh tế tạo ra bao nhiêu của cải, mà còn ở việc người dân được hưởng bao nhiêu từ những thành quả ấy và có thêm bao nhiêu cơ hội để vươn lên.
Đổi mới, sáng tạo vì hạnh phúc của Nhân dân
C. Mác đã dự báo, đã tiên đoán: “Tri thức xã hội phổ biến đã chuyển hóa đến mức độ nào đó thành lực lượng sản xuất trực tiếp”. V.I. Lênin chủ trương: “Dùng cả hai tay mà “lấy những cái tốt đẹp của nước ngoài”: Chính quyền Xô-viết + Trật tự đường sắt Phổ + Kỹ thuật và cách tổ chức các Tơrớt ở Mỹ + Ngành giáo dục quốc dân Mỹ etc.etc.++=Σ = Chủ nghĩa xã hội”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự phát triển khoa học và kỹ thuật, với sự phát triển văn hóa của Nhân dân”. Như vậy, theo quan điểm của các nhà kinh điển và theo Tư tưởng Hồ Chí Minh thì muốn có tiến bộ, ấm no, hạnh phúc thì phải xây dựng chủ nghĩa xã hội và phát triển khoa học, công nghệ.
Phát biểu mới đây tại Việt Nam, đại diện UNDP, bà Francesca Nardini, Phó Trưởng Đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc, lưu ý rằng thách thức không chỉ là phổ cập đổi mới sáng tạo mà còn phải xây dựng một hệ sinh thái có khả năng mở rộng và khuếch tán đổi mới sáng tạo trên toàn nền kinh tế.
Như vậy, đổi mới sáng tạo, tạo ra năng lực tăng trưởng mới một cách đồng bộ, toàn diện là điều kiện cần và đủ cho mô hình phát triển mới. Theo ông Nguyễn Thanh Nghị, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, đổi mới mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là lựa chọn chiến lược có ý nghĩa quyết định đối với tương lai đất nước.
Nếu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực mới, thể chế và quản trị là nền tảng, thì con người chính là chủ thể quyết định khả năng hiện thực hóa mô hình phát triển. Lấy con người làm trung tâm không có nghĩa là chờ đến cuối quá trình phát triển để người dân thụ hưởng thành quả. Người dân phải hiện diện trong toàn bộ chu trình chính sách: từ hoạch định, tổ chức thực hiện đến giám sát và đánh giá kết quả. Đó cũng là sự tiếp nối Tư tưởng Hồ Chí Minh về “nước lấy dân làm gốc”, coi lợi ích của Nhân dân là trước hết và trên hết, chính quyền phải phụng sự Nhân dân.
Những câu hỏi mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra vì thế mang ý nghĩa vượt ra ngoài những chỉ số kinh tế: Con đường đến trường của trẻ em có thuận tiện hơn không? Trạm y tế có phục vụ người dân tốt hơn không? Người lao động có việc làm ổn định hơn không? Bản làng, khu phố có sạch đẹp hơn không? Người nghèo, người yếu thế có được quan tâm hơn không? Cán bộ có gần dân, trọng dân, hiểu dân và vì dân hơn không? Đó chính là những phép đo cụ thể của một mô hình phát triển lấy con người, lấy Nhân dân làm trung tâm.
Theo ông Đinh Viết Ba, nguyên Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa, Nghị quyết 19-NQ/TW không chỉ đặt ra yêu cầu xây dựng mô hình quản trị hiện đại dựa trên khoa học, công nghệ mà còn hướng tới một nền quản trị dân chủ, hiệu lực và thực sự vì Nhân dân. Muốn quản trị quốc gia tốt, trước hết phải quản trị tốt từng ngành, từng lĩnh vực và từng địa phương. Phân quyền phải đi đôi với lựa chọn đúng người, giao đúng việc và kiểm soát quyền lực hiệu quả. Nhưng suy cho cùng, đích đến của mọi cải cách vẫn là con người.
Tính nhân văn của Nghị quyết 19-NQ/TW được lượng hóa bằng các giải pháp thực tế: Kinh tế tự cường để bảo vệ dân - Thể chế thông thoáng để phục vụ dân - Khoa học công nghệ để nâng tầm dân - Phát triển bền vững để lo cho tương lai con cháu của chúng ta. Tất cả phản ánh đúng bản chất của một xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang kiên trì xây dựng.
Trong tiến trình đổi mới mô hình phát triển quốc gia tổng thể theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW, tư duy quản trị đất nước đang chứng kiến một bước chuyển dịch căn bản mang tính đột phá chiến lược. Đó là sự chuyển đổi mạnh mẽ từ phương thức “quản lý hành chính” sang mô hình “Quản trị kiến tạo phát triển”. Sự thay đổi mạnh mẽ này là lời khẳng định mang tính nhân văn sâu sắc, đặt quyền làm chủ thực chất của Nhân dân vào trung tâm của mọi sự vận động. Vận hành đồng bộ theo cơ chế xuyên suốt “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, bước chuyển dịch sang quản trị kiến tạo chính là hành động “cởi trói” thực chất cho sức mạnh của người dân và cộng đồng doanh nghiệp. Một thể chế nhân văn, ưu việt chính là nền quản trị dám dấn thân, khơi thông mọi nguồn lực, chắp cánh cho khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Một Việt Nam phát triển vào năm 2045 không chỉ là một Việt Nam có thu nhập cao. Và tầm nhìn cho 100 năm tới, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn. Tất cả chúng ta đang sống trong thời khắc lịch sử ấy và cùng viết nên những trang sử đẹp nhất cho tương lai, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Bác Hồ hằng mong muốn.
