Hiện thực hóa kỷ nguyên vươn mình bằng bản lĩnh Việt Nam
Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIV đánh dấu bước ngoặt lịch sử từ tích lũy sang bứt phá, hiện thực hóa kỷ nguyên vươn mình bằng bản lĩnh Việt Nam.

Trung tuần tháng 1-2026, Hà Nội trở thành tâm điểm chú ý của đời sống chính trị đất nước khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra và thành công rực rỡ. Đây không đơn thuần là một sự kiện chuyển giao nhiệm kỳ, mà là cột mốc lịch sử đánh dấu bước chuyển dịch mang tính quy luật của tiến trình phát triển dân tộc.
Tại thời khắc này, dân tộc Việt Nam chính thức bước qua giai đoạn tích lũy để tiến vào giai đoạn bứt phá, hiện thực hóa khát vọng về một “kỷ nguyên vươn mình”.
Từ tích lũy về lượng đến bước nhảy vọt về chất
Lịch sử hiện đại Việt Nam vận động theo những chu kỳ biện chứng, trong đó mỗi giai đoạn lịch sử được giao một trọng trách quan trọng nhằm giải quyết một mâu thuẫn cơ bản của thực tiễn. Nếu “kỷ nguyên độc lập” (1945-1975) nhằm giải quyết về vấn đề thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ thì công cuộc Đổi mới (khởi xướng từ năm 1986) đóng vai trò là “đường băng chiến lược” kéo dài 40 năm để tích lũy về lượng.

Với quy mô tăng trưởng cao và độ mở nền kinh tế ấn tượng, Việt Nam đã trở thành một mắt xích trọng yếu trong dòng chảy thương mại toàn cầu. Ảnh: QUANG HUY
Những thành tựu to lớn về hạ tầng và thể chế trong bốn thập niên qua là điều kiện cần nhưng chưa đủ để đưa đất nước vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Sự đầu tư vào cơ sở hạ tầng, những cải cách thể chế, cùng với quá trình toàn cầu hóa đã cùng nhau kiến tạo nên một nền tảng cơ bản cho tăng trưởng kinh tế trong gần 40 năm qua. Do đó, Đại hội lần thứ XIV diễn ra vào đúng thời điểm mang tính bước ngoặt, khi quá trình tích lũy lượng suốt bốn thập niên qua đã đạt đến điểm “chín muồi” để chuyển hóa về chất.
Bốn chữ vàng “Kỷ nguyên vươn mình” được đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đề cập, không đơn thuần là một khẩu hiệu chính trị mà chính xác hơn, đó như một tầm nhìn chiến lược trước một ngưỡng lịch sử, nơi mà quy mô và năng lực quốc gia đã lớn mạnh đến mức mô hình tư duy cũ không còn phù hợp. Theo đó, thực tiễn khách quan đòi hỏi Việt Nam về một sự sắp xếp lại căn bản trong trật tự tư duy phát triển. Đây là lúc Việt Nam phải thực hiện bước chuyển dịch từ tâm thế tập trung vào phòng thủ và tích lũy sang tâm thế chủ động kiến tạo.

Việc lấy người dân, địa phương và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ sẽ góp phần tạo động lực mạnh mẽ cho sự bứt phá của đất nước. Ảnh: THUẬN VĂN
Cơ đồ và tiềm lực: Minh chứng từ những con số biết nói
Cơ sở thực tiễn để Đại hội lần thứ XIV tuyên bố về kỷ nguyên mới chính là những kết quả bản lề của nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIII (2021-2025) và quá trình Đổi mới. Nhìn lại chặng đường vừa qua, chúng ta càng thấm thía sâu sắc nhận định của đồng chí cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Về kinh tế, bất chấp suy thoái toàn cầu, theo IMF và World Bank, quy mô kinh tế Việt Nam năm 2025 tiếp tục nằm trong nhóm các nước tăng trưởng cao trên thế giới. Độ mở nền kinh tế đạt mức ấn tượng với kim ngạch xuất nhập khẩu duy trì đà tăng trưởng lớn. Qua đó, có thể khẳng định Việt Nam đã trở thành một mắt xích trọng yếu trong dòng chảy của thương mại toàn cầu.
Về đối ngoại, Việt Nam được biết đến là quốc gia duy nhất trong khu vực Đông Nam Á có thể thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, mức quan hệ song phương cao nhất với toàn bộ năm nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, bao gồm: Trung Quốc (tháng 5-2008), Nga (tháng 7-2012), Mỹ (tháng 9-2023), Pháp (tháng 10-2024) và Vương quốc Anh (tháng 5-2025).
Bản lĩnh “ngoại giao cây tre” trước nhiều thách thức
Tuy nhiên, “kỷ nguyên vươn mình” không khởi phát trong một thế giới phẳng lặng. Bối cảnh quốc tế những năm giữa thập niên 20 đang chứng kiến sự trỗi dậy của chủ nghĩa đơn phương. Các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc đang chịu sức ép lớn chưa từng có.
Thực tế từ bối cảnh địa chính trị cho thấy khi lợi ích vị kỷ lên ngôi, các hành động sử dụng vũ lực nhằm thay đổi nguyên trạng đang gia tăng. Nguy cơ tư duy chính trị cường quyền lấn át và làm xói mòn trật tự quốc tế dựa trên luật lệ đang đặt ra những thách thức an ninh mang hiện hữu đối với các quốc gia vừa và nhỏ.
Trước bối cảnh đó, đường lối đối ngoại được đặt ra tại kỳ Đại hội lần thứ XIV tiếp tục kiên định trường phái “ngoại giao cây tre” với đặc trưng “gốc vững” là sự kiên định độc lập, tự chủ và thượng tôn pháp luật quốc tế. Việt Nam chọn đứng về phía chính nghĩa, bảo vệ tính toàn vẹn của Hiến chương Liên hợp quốc. Ngoài ra, đặc tính “cành uyển chuyển” cho phép nước này linh hoạt hóa giải áp lực, duy trì thế cân bằng, không chọn phe nhưng luôn rõ ràng trong bảo vệ lợi ích dân tộc.
Hội tụ sức mạnh cho kỷ nguyên mới
Đại hội lần thứ XIV xác lập định hướng chiến lược phát triển quốc gia trên nền tảng hội tụ của ba trụ cột: Nội lực, thời cơ và ý chí. Nội lực chính là sức mạnh tích lũy từ hơn bốn thập niên đổi mới, bao gồm thành tựu kinh tế, thể chế và nguồn nhân lực. Thời cơ xuất hiện từ việc tận dụng những thành tựu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mở ra khả năng “đi tắt, đón đầu” trong tiến trình hiện đại hóa. Tuy nhiên, yếu tố mang tính quyết định lại là ý chí dân tộc, sự thống nhất giữa đường lối của Đảng và khát vọng của nhân dân.
Với hành trang là nền tảng phát triển chưa từng có cùng bản lĩnh ngoại giao đã được tôi luyện, toàn Đảng và toàn dân bước vào Đại hội lần thứ XIV với tâm thế tự tin, đĩnh đạc. Đây được xem là thời điểm lịch sử để hiện thực hóa khát vọng vươn lên, khẳng định vị thế của một dân tộc có truyền thống văn hiến, yêu chuộng hòa bình và kiên định theo đuổi phát triển bền vững.
Từ tham gia đến định hình: Những đột phá trong tư duy đối ngoại mới
Một điểm nhấn mang tính nền tảng trong văn kiện Đại hội lần thứ XIV chính là sự nâng tầm tư duy đối ngoại để tương thích với yêu cầu trong kỷ nguyên mới. Đánh giá về những bước phát triển này, trong cuộc trao đổi với báo chí bên lề công tác chuẩn bị đại hội, đồng chí Bí thư Trung ương Đảng, Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung đã đưa ra những nhận định mang tính khái quát cao về sự chuyển dịch chiến lược của đất nước.
Người đứng đầu ngành ngoại giao nhấn mạnh rằng bên cạnh việc kế thừa đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, Đại hội lần thứ XIV xác lập những “nội hàm mới và yêu cầu cao hơn” đối với công tác đối ngoại. Đồng chí Lê Hoài Trung khẳng định: “Trong giai đoạn mới, chúng ta xác định hội nhập quốc tế phải toàn diện và sâu rộng hơn. Nếu trước đây trọng tâm là hội nhập kinh tế thì nay hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị. Điểm đột phá là chúng ta không chỉ tham gia các luật chơi sẵn có, mà chuyển mạnh sang chủ động đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương. Đặc biệt, ngoại giao thời kỳ này phải thực sự trở thành động lực mạnh mẽ cho sự bứt phá của đất nước, lấy người dân, địa phương và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài cho các lĩnh vực then chốt như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển khoa học công nghệ”.
Những định hướng này cho thấy Việt Nam đã sẵn sàng gánh vác các trọng trách quốc tế lớn hơn. Thông qua vai trò nòng cốt trong ASEAN và các diễn đàn đa phương, Việt Nam nỗ lực thúc đẩy một cấu trúc an ninh dựa trên luật lệ. Mạng lưới các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn tạo ra “lưới an toàn” địa chính trị. Khi lợi ích của Việt Nam đan xen với thế giới, sự ổn định của nước này là một phần của sự ổn định nhân loại.
(*) TS Nguyễn Tuấn Khanh - giảng viên tại Trường ĐH KHXH&NV, ĐH Quốc gia TP.HCM; Đào Đình Đức - nghiên cứu viên về quan hệ quốc tế thuộc dự án IR Analytica.
Đại hội XIV thể hiện rõ tư duy “nhìn xa, nghĩ sâu và làm lớn”
Theo PGS-TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, đánh giá Đại hội XIV là một cột mốc lịch sử có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng, đánh dấu sự chuyển tiếp từ một nhiệm kỳ có nhiều đột phá sang giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn dài hạn đến năm 2045.
Sau 40 năm Đổi mới, giai đoạn 1986-2026, Việt Nam đã trải qua một hành trình nhiều thử thách nhưng rất đáng tự hào, từng bước vươn lên từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu để trở thành nền kinh tế có quy mô lớn trong khu vực.
Tầm vóc chính trị của Đại hội XIV không chỉ thể hiện ở việc xác định mục tiêu phát triển cho nhiệm kỳ năm năm tới mà còn ở việc định hình con đường phát triển của đất nước trong 20 năm tiếp theo. Đây là đại hội mở ra kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, gắn với đổi mới sáng tạo, tự cường, hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững.
Ông Nguyễn Trọng Phúc cho rằng Đại hội XIV thể hiện rõ tư duy nhìn xa, nghĩ sâu và làm lớn, khi các quyết sách được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, hướng tới tạo ra những chuyển biến căn bản trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, chính trị, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, với mục tiêu xuyên suốt là nâng cao đời sống và hạnh phúc của nhân dân.
PGS-TS Nguyễn Trọng Phúc cũng nhấn mạnh chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế đang từng bước được cải thiện. Nhiều địa phương đã hình thành các cực tăng trưởng mới, trong khi doanh nghiệp Việt Nam ngày càng chủ động tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Theo ông, những kết quả này phản ánh rõ năng lực điều hành kinh tế vĩ mô đã được nâng lên, thể hiện tư duy quản trị phát triển ngày càng hiệu quả.
“Người cán bộ lãnh đạo trong thời kỳ mới buộc phải giỏi về khoa học công nghệ, quản trị hiện đại, đồng thời phải giữ được phẩm chất đạo đức trong sáng, thực sự vì dân và vì sự phát triển chung của đất nước” - PGS-TS Nguyễn Trọng Phúc mong mỏi. VIẾT THỊNH
Từ đột phá thể chế đến kỷ nguyên hành động vì hạnh phúc nhân dân
Trước những định hướng chiến lược và tinh thần đổi mới quyết liệt được thể hiện trong văn kiện đại hội, các chuyên gia và nhà nghiên cứu đã chia sẻ những góc nhìn đầy tâm huyết. Đó là kỳ vọng về những đột phá hơn nữa trong cải cách thể chế để đưa đất nước trở thành nền kinh tế có thu nhập cao vào năm 2045. Đó là lời hiệu triệu về trách nhiệm và khát vọng, nơi phát triển kinh tế phải gắn chặt với tiến bộ xã hội.
Và trên hết, đó là yêu cầu cấp thiết về việc khắc phục “điểm yếu lớn nhất” trong khâu tổ chức thực hiện, hướng tới xây dựng đội ngũ cán bộ “nói ít, làm nhiều”, dám chịu trách nhiệm để phụng sự Tổ quốc và phục vụ Nhân dân.
TS LÊ DUY BÌNH, Giám đốc Economica Việt Nam:
Kỳ vọng nhiều đột phá hơn, đặc biệt về thể chế
Kỳ vọng lớn nhất của tôi trước tiên là hy vọng Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng sẽ có nhiều đột phá hơn nữa, đặc biệt là về công tác cải cách thể chế. Tiếp đến là những đổi mới về phương thức điều hành và quản trị công để hỗ trợ cho quá trình đưa nền kinh tế đi vào quỹ đạo tăng trưởng cao, tăng trưởng hai con số. Mục tiêu lâu dài hơn là để thực hiện khát vọng của đất nước trở thành một nền kinh tế phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Những tư tưởng rất đổi mới trong bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm cũng như trong các văn kiện của Đại hội Đảng đã thể hiện hết sức rõ nét tinh thần chung là chúng ta sẽ phải có những hành động quyết liệt để chuyển dịch mô hình tăng trưởng kinh tế dựa nhiều hơn vào tri thức và đổi mới sáng tạo.
Đặc biệt, tôi rất tâm đắc với thông điệp mạnh mẽ trong bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm: Quá trình phát triển sẽ lấy con người làm trung tâm. Lấy Nhân dân làm trung tâm, lấy con người là chủ thể cũng như là nguồn lực, là mục đích cho quá trình phát triển; điều đó có nghĩa các hoạt động phát triển đều vì Nhân dân, phục vụ cho Nhân dân và do Nhân dân thực hiện những mục tiêu này.
Bài phát biểu của Tổng Bí thư cũng nhấn mạnh về việc biến những nghị quyết trở thành những hành động cụ thể trong thực tiễn, rút ngắn khoảng cách giữa những tư tưởng đổi mới, những chính sách, quyết sách lớn trong các văn kiện của Đại hội Đảng cũng như trong các nghị quyết của Đảng, thành những hành động cụ thể gắn với thực tiễn.
Để hiện thực hóa ước mơ, tham vọng này, tôi mong muốn những hành động cụ thể đó tới đây sẽ được thể chế hóa trong các quy định của pháp luật, hay trong những văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ hoặc các bộ, ngành ban hành. Từ những văn bản, quy định này sẽ trở thành những hành động cụ thể bởi các chính quyền địa phương.
Việc hiện thực hóa tham vọng này sẽ còn hiệu quả hơn nữa nếu được cộng hưởng bởi hành động của chính cộng đồng doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, cũng như người dân. Điều đó sẽ tạo nền tảng để chúng ta đạt được tốc độ tăng trưởng cao, bền vững, bao trùm để phục vụ cho người dân, phục vụ doanh nghiệp, phục vụ cho phúc lợi xã hội và cho cả nền kinh tế.
..........................
TS TRẦN HẢI LINH, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc (VKBIA):
Lời hiệu triệu về trách nhiệm, khát vọng và hành động
Tôi cảm nhận rõ tinh thần đổi mới, tầm nhìn chiến lược và khát vọng phát triển mạnh mẽ được truyền tải trong bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm. Thông điệp khiến tôi tâm đắc nhất là việc nhấn mạnh vai trò trung tâm của con người và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trong đó, phát triển kinh tế phải gắn chặt với tiến bộ xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Đây không chỉ là mục tiêu phát triển, mà là một tuyên ngôn về giá trị, cho thấy sự nhất quán giữa lý tưởng của Đảng và mong mỏi của Nhân dân. Bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm không chỉ là định hướng cho nhiệm kỳ mới, mà còn là lời hiệu triệu về trách nhiệm, khát vọng và hành động, khơi dậy niềm tin vào một chặng đường phát triển mới đầy cơ hội của Việt Nam.
..........................
TS TRẦN THỊ BÌNH, khoa Xây dựng Đảng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền:
Tốc độ và chất lượng thực thi là thước đo năng lực lãnh đạo
Tôi rất ấn tượng với nội dung Tổng Bí thư nhấn mạnh là “Dân làm gốc”, Nhân dân là trung tâm, là động lực và là nguồn lực của sự phát triển. Vậy thì những đường lối, chủ trương Đảng đề ra cũng phải hướng tới để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân; như chúng ta sắp xếp lại giang sơn, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp, hướng sâu về cơ sở để chúng ta gắn bó với người dân, để chúng ta phục vụ Nhân dân mà ở đây, điểm nhấn là lời nói và hành động.
Tổng Bí thư cũng nói cần cán bộ nói ít, làm nhiều. Thực tiễn cho thấy không ít trường hợp nghị quyết, chủ trương được ban hành rất khoa học, rất đúng, rất trúng song khi đi vào cuộc sống lại chậm.
Những biểu hiện như “nói nhiều, làm ít”, “nói không đi đôi với làm”, hay đề ra mục tiêu cao nhưng triển khai chậm, hiệu quả thấp… không chỉ làm suy giảm hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của Nhân dân. Việc nhận diện đúng “điểm yếu lớn nhất” này không mang tính phê phán hình thức, mà thể hiện tư duy đổi mới thực chất, đổi mới không chỉ ở nội dung nghị quyết, mà còn ở cách tổ chức thực hiện nghị quyết.
“Nói ít” cũng chính là yêu cầu nâng cao chất lượng tư duy chiến lược, gắn xây dựng chủ trương với điều kiện thực tiễn, với năng lực tổ chức và nguồn lực thực hiện. Đây là bước chuyển từ “tư duy thiên về định hướng” sang “tư duy quản trị”, nơi mỗi mục tiêu đều phải đi kèm lộ trình, cơ chế, công cụ và trách nhiệm rõ ràng.
Tổng Bí thư nhấn mạnh đề cao trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng cán bộ, cho thấy trọng tâm của Văn kiện Đại hội XIV là chuyển từ “ban hành” sang “hành động”, từ “chỉ đạo” sang “thực thi”.
“Làm nhiều” không phải là làm dàn trải, mà là làm có trọng tâm, trọng điểm, dám quyết định, dám chịu trách nhiệm, dám chịu kiểm tra, giám sát.
Đây chính là yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực thực tiễn và đạo đức công vụ trong sáng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của quản trị quốc gia hiện đại. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, với yêu cầu vừa tăng tốc, vừa bền vững, vừa cạnh tranh toàn cầu thì tốc độ và chất lượng thực thi chính là thước đo năng lực lãnh đạo.
MINH TRÚC
Nguồn PLO: https://plo.vn/hien-thuc-hoa-ky-nguyen-vuon-minh-bang-ban-linh-viet-nam-post892792.html













