Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa: Bước chuyển tư duy từ hỗ trợ sang kiến tạo
Chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm, mở đường tiếp cận vốn bằng dữ liệu, tài sản vô hình và tối ưu hóa chính sách thuế là hướng tiếp cận mới đối với khu vực doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa. Những cải cách này được kỳ vọng sẽ giải phóng nguồn lực, giảm chi phí tuân thủ, nuôi dưỡng cơ sở thuế dài hạn và tạo dư địa cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững.

Việc cải cách quản lý thuế và giảm chi phí tuân thủ giúp giải phóng nguồn lực lớn cho DN. Ảnh: chinhphu.vn
Từ hỗ trợ dàn trải sang kiến tạo điều kiện
Sau gần 10 năm thực hiện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, hệ thống chính sách hỗ trợ DN đã được hình thành trên nền tảng pháp lý quan trọng. Tuy nhiên, đánh giá từ Chính phủ cho thấy một số chính sách chưa phát huy đầy đủ hiệu quả; phương thức hỗ trợ còn phân tán, chưa xuất phát thực sự từ nhu cầu của DN; việc tiếp cận chính sách còn khó khăn và cơ chế đánh giá hiệu quả sau hỗ trợ chưa rõ nét.
Chính vì vậy, Chính phủ đang đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện thể chế với cách tiếp cận mới. Theo đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo - Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, Chính phủ đề xuất không chỉ sửa đổi toàn diện mà còn đổi tên Luật thành Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Sự thay đổi này thể hiện bước chuyển về tư duy chính sách, từ “hỗ trợ DN” là chính sang “kiến tạo điều kiện thuận lợi để DN phát triển”. Thước đo của các chính sách lúc này không nằm ở số lượng DN nhận hỗ trợ, mà là sự trưởng thành thực chất của DN sau quá trình đó.
Đánh giá về thực trạng hiện nay, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhận định: Một trong những điểm nghẽn lớn nhất đối với DN nhỏ và vừa hiện nay là tiếp cận vốn; khu vực này chiếm khoảng 98,4% tổng số doanh nghiệp cả nước, nhưng tỷ lệ tiếp cận dư nợ tín dụng chỉ đạt khoảng 19-20%.
Để tháo gỡ nút thắt này, định hướng mới khuyến khích các tổ chức tín dụng cho vay dựa trên xếp hạng tín nhiệm, phương án sản xuất kinh doanh, dữ liệu, dòng tiền, đơn hàng và chuỗi giá trị. Đồng thời, tài sản bảo đảm được mở rộng sang động sản, tài sản hình thành trong tương lai, quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, tài sản vô hình, các khoản phải thu, hàng lưu kho và hàng hóa luân chuyển. Các công cụ như tài trợ chuỗi cung ứng, tài trợ theo đơn hàng, đồng đầu tư, tài chính hỗn hợp và vốn mồi cũng được đề xuất nhằm đa dạng hóa nguồn vốn.
Đây được xem là bước đi thiết thực. Khi dòng tiền, đơn hàng và quyền tài sản trở thành căn cứ cấp tín dụng, DN sẽ có thêm cơ hội tiếp cận vốn thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào bất động sản thế chấp.
Khung chính sách thuế đang hướng tới cơ cấu lại nguồn thu và tiệm cận thông lệ quốc tế. Việc thiết kế chính sách có trọng tâm vào các ngành có giá trị gia tăng cao sẽ giúp DN tạo năng lực sản xuất mới, qua đó mở rộng cơ sở thuế tương lai.
Ông Nguyễn Đình Phong - Giám đốc cấp cao, Dịch vụ Tư vấn Thuế, Deloitte Việt Nam
Nuôi dưỡng cơ sở thu và kích thích tái đầu tư
Khu vực kinh tế tư nhân hiện có hơn 940.000 DN và hơn 5 triệu hộ kinh doanh, sử dụng trên 42 triệu lao động (chiếm trên 82% tổng lao động) và đóng góp trên 51% GDP. Theo định hướng đến năm 2030, khu vực này được kỳ vọng tăng trưởng bình quân 10-12%/năm, đóng góp khoảng 55-58% GDP và 35-40% tổng thu ngân sách nhà nước.
Để đạt mục tiêu đó, chính sách thuế không thể chỉ hướng tới thu ngân sách ngắn hạn. PGS,TS. Lý Phương Duyên (Học viện Tài chính) phân tích, hệ thống thuế cần vận hành đồng bộ 3 cơ chế: Huy động nguồn thu, nuôi dưỡng cơ sở thuế thông qua hỗ trợ phát triển khu vực tư nhân và giảm chi phí của hệ thống thuế (bao gồm chi phí tuân thủ của người nộp thuế và chi phí quản lý của cơ quan thuế).
Trong đó, việc nuôi dưỡng cơ sở thuế đóng vai trò tạo dư địa để DN đầu tư. Chẳng hạn, Luật Thuế thu nhập DN số 67/2025/QH15 quy định mức thuế suất 15% đối với DN có doanh thu năm không quá 3 tỷ đồng và 17% đối với DN có doanh thu từ trên 3 tỷ đồng đến không quá 50 tỷ đồng (so với mức phổ thông 20%). Cùng với các hỗ trợ cho DN khởi nghiệp sáng tạo và hoạt động nghiên cứu, phát triển (R&D), chính sách này giúp DN giữ lại nguồn lực ban đầu để chuyển hóa thành vốn, công nghệ và sản phẩm mới.
Đánh giá hiệu quả ưu đãi thuế cũng cần thay đổi tư duy. PGS,TS. Lý Phương Duyên cho rằng hiệu quả không thể tính bằng số tiền thuế giảm hay số DN thụ hưởng, mà dựa trên hoạt động kinh tế tăng thêm so với khi không có ưu đãi. Tiếp cận theo khuyến nghị của OECD, việc quản trị ưu đãi thuế cần theo dõi toàn bộ vòng đời chính sách, tính đến tính bổ sung, chi phí tài khóa, biến đổi hành vi ngoài mong muốn, cơ chế rà soát định kỳ và điều khoản kết thúc. Nuôi dưỡng nguồn thu phải gắn liền với quản lý chi tiêu thuế để đảm bảo phần thu nhập ngân sách từ bỏ mang lại lợi ích kinh tế - xã hội đủ lớn trong dài hạn.
Về vấn đề ngưỡng doanh thu và thuế suất phân hóa, PGS,TS. Lý Phương Duyên cho biết hiện Việt Nam chưa có đủ bằng chứng khẳng định quy định này tạo ra "bẫy quy mô nhỏ" (DN cố tình giữ quy mô nhỏ để hưởng thuế thấp). Đây là giả thuyết cần kiểm chứng bằng dữ liệu thực tế. Mục tiêu cốt lõi của chính sách vẫn là hỗ trợ để DN lớn lên, thay vì tạo động cơ duy trì quy mô nhỏ.
Hiện đại hóa quản lý thuế và bài toán giảm chi phí tuân thủ
Bên cạnh ưu đãi tài chính, việc cải cách quản lý thuế và giảm chi phí tuân thủ giúp giải phóng nguồn lực lớn cho DN. Quá trình chính thức hóa hoạt động kinh doanh, chấm dứt thuế khoán và mở rộng quản lý dựa trên dữ liệu, hóa đơn làm phát sinh chi phí chuyển đổi cho các chủ thể nhỏ.
Do đó, việc mở rộng cơ sở thuế phải đi cùng nguyên tắc tương xứng: Nghĩa vụ và mức độ phức tạp cần phù hợp với quy mô và rủi ro của người nộp thuế. Các công cụ đơn giản hóa thủ tục, tự động hóa và quản lý dựa trên rủi ro là giải pháp xuyên suốt giúp cơ quan thuế tập trung nguồn lực vào nhóm rủi ro cao, đồng thời giảm chi phí cho người nộp thuế tuân thủ tốt.
Trao đổi với báo chí, ông Nguyễn Đình Phong - Giám đốc cấp cao, Dịch vụ Tư vấn Thuế, Deloitte Việt Nam - nhấn mạnh, việc hoàn thiện hệ thống hóa đơn điện tử và xây dựng cơ sở dữ liệu kết nối liên ngành là nền tảng cốt lõi để chuyển sang mô hình quản lý dựa trên phân tích rủi ro, đặc biệt trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển nhanh.
Một hệ thống quản lý hiện đại không chỉ thu đúng, thu đủ mà còn hạn chế tiêu hao nguồn lực xã hội. Mở rộng cơ sở thuế không thuần túy là đưa thêm đối tượng vào quản lý, mà nhằm tạo môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi để DN có thêm động lực đầu tư, đổi mới và trưởng thành.
Sự thay đổi tư duy từ "hỗ trợ" sang "kiến tạo", kết hợp cùng các nỗ lực hoàn thiện thể chế và chính sách thuế đồng bộ đang mở ra môi trường thuận lợi để cộng đồng DN nhỏ và vừa bứt phá, củng cố nội lực và đóng góp thiết thực cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế./.
