Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Thời gian qua, phong trào phụ nữ làm kinh tế trên địa bàn xã Thăng Điền lan tỏa mạnh mẽ. Các mô hình hay, cách làm mới đang tạo động lực để những người mẹ, người chị tự tin, sáng tạo, làm chủ cuộc sống.

Mô hình trồng rau diếp cá của hộ chị Võ Thị Lai (bên trái), trú làng Kế Xuyên. Ảnh: GIANG BIÊN

Mô hình trồng rau diếp cá của hộ chị Võ Thị Lai (bên trái), trú làng Kế Xuyên. Ảnh: GIANG BIÊN

Hiệu quả mô hình trồng rau, nuôi nấm

Từ bao đời nay, nhiều hộ gia đình ở làng Kế Xuyên đã gắn cuộc mưu sinh với nghề trồng rau diếp cá. Gia đình đang sở hữu diện tích canh tác rau diếp cá lớn nhất làng với khoảng 12 sào, chị Võ Thị Lai chia sẻ, rau diếp cá ưa đất ẩm ướt, phù hợp với chân ruộng sình lầy, trũng thấp.

Với đặc tính sống khỏe, tái sinh mạnh, loại rau này chỉ cần xuống giống một lần là có thể thu hoạch kéo dài nhiều năm. Ngay cả lũ lụt khiến lá bị rụi, người trồng chỉ cần cắt bỏ phần ngọn già, chăm bón trở lại là cây đâm chồi xanh tốt.

Chị Lai cho biết, với điều kiện canh tác thuận lợi, mỗi sào rau diếp cá của gia đình đem lại nguồn thu 50-60 triệu đồng/năm. Với mô hình này, gia đình chị Lai đã tạo việc làm cho nhiều phụ nữ trong thôn vào vụ thu hoạch.

Bà Vũ Đỗ Yến Trang, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Thăng Điền cho biết, ngoài vùng trồng rau Kế Xuyên, hội viên phụ nữ trên địa bàn xã đã bắt nhịp xu hướng lựa chọn thực phẩm sạch của người tiêu dùng để đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp, đặc biệt là các sản phẩm từ nấm.

Hộ chị Lê Thị Lý, trú thôn Phước Mỹ được xem là điển hình. Huy động nhiều nguồn vốn, chị Lý đầu tư trang trại với kinh phí hơn 1,2 tỷ đồng. Từ 15.000 phôi nấm sản xuất cho năm đầu tiên, đến nay trang trại nấm của chị Lý có 50 nghìn phôi cung ứng nấm cho thị trường.

Một phôi nấm bào ngư sống kéo dài 4 tháng với 8 lần thu hái. Hết vòng đời, các phôi thải tiếp tục được đem ủ làm phân hữu cơ bón cho cây trồng.

Đối với sản phẩm nấm, trang trại bán ra thị trường 600kg/tháng, với giá dao động 50.000 - 70.000 đồng/kg, cho thu lãi ròng gần 15 triệu đồng. Thông qua hội phụ nữ, chị Lý được hỗ trợ xây dựng nhãn mác, giúp sản phẩm mang thương hiệu “Nấm bào ngư Lê Thị Lý” có mặt tại địa bàn trong và ngoài Đà Nẵng

Trang trại trồng nấm bào ngư của hộ chị Lê Thị Lý. Ảnh: GIANG BIÊN

Trang trại trồng nấm bào ngư của hộ chị Lê Thị Lý. Ảnh: GIANG BIÊN

Áp dụng máy móc

Xã Thăng Điền có diện tích sản xuất lúa khoảng 2.500ha mỗi vụ. Giống lúa canh tác ở vùng này phần lớn phù hợp để sản xuất mỳ, bún, các loại thực phẩm khô. Trong đó, gia đình chị Nguyễn Thị Huệ (thôn Nghĩa Phương) được nhiều người biết đến với sản phẩm bánh phở khô.

Chị Huệ cho hay, trước đây việc làm bánh phở khô chủ yếu theo phương thức thủ công, năng suất thấp. Năm 2025, gia đình chị mạnh dạn đầu tư 180 triệu đồng trang bị máy móc hiện đại, áp dụng công nghệ sản xuất khép kín. Nhờ đó, mỗi ngày cơ sở có thể sản xuất, cung cấp ra thị trường 500kg sản phẩm.

“Ban đầu, tôi chưa nghĩ đến việc xây dựng thương hiệu. Tuy nhiên, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã đã động viên, tích cực hỗ trợ để tôi tham gia các lớp tập huấn về khởi nghiệp. Từ đó tôi mạnh dạn xây dựng thương hiệu cơ sở sản xuất “Phở khô Huệ Nhân” để nâng cao giá trị sản phẩm”, chị Huệ nói.

Ở lĩnh vực sản xuất thủ công, trên địa bàn xã Thăng Điền còn có cơ sở gia công mây tre đan của chị Đinh Thị Lý (thôn An Thành) đang tạo việc làm cho hàng chục lao động tại địa phương, nhất là phụ nữ lớn tuổi.

Gắn bó nhiều năm với cơ sở, bà Lê Thị Thanh Bình chia sẻ, công việc gia công sản phẩm mây tre vừa phù hợp sức khỏe lại cho thu nhập mỗi tháng hơn 2 triệu đồng là số tiền đáng kể đối với những phụ nữ lớn tuổi như bà ở nông thôn. Cũng theo bà Bình, điểm thuận lợi là có thể đem sản phẩm về để vừa gia công còn tranh thủ làm việc nhà.

Theo bà Lê Thị Li, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Thăng Điền, thực hiện Đề án hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2026 - 2035, hội xem đây là nhiệm vụ trọng tâm nên đã đề xuất Đảng ủy, các ngành liên quan hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, xây dựng gia đình hạnh phúc.

Thông qua kênh vay vốn ủy thác từ Ngân hàng Chính sách xã hội và kết nối các chương trình, nguồn lực phù hợp khác, hội đã tạo điều kiện để phụ nữ tiếp cận tín dụng để đầu tư sản xuất, tạo việc làm và cải thiện thu nhập.

Bà Li cho hay, hội đã triển khai nhiều mô hình phù hợp, như diện tích sản xuất nào nằm vùng thấp trũng, ngập lụt, hội định hướng cho hội viên nhân rộng mô hình trồng rau diếp cá. Hay như tại thôn Bình Trung, hội viên tận dụng khu đất cát khô cằn bị bỏ hoang để trồng cây keo lá tràm...

“Hội viên là chủ thể có nguyện vọng xây dựng sản phẩm OCOP, hội sẵn sàng tư vấn, phối hợp với các ngành liên quan hỗ trợ thực hiện thủ tục. Hội cũng sẽ có chính sách hỗ trợ, hoặc tư vấn, kết nối tham quan học hỏi kinh nghiệm tại các địa phương để chị em tiếp cận, xây dựng mô hình phát triển kinh tế mới theo hướng xanh, sạch phù hợp với điều kiện thực tế để cải thiện thu nhập”, bà Li nói.

Ông Nguyễn Đình Tư, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Thăng Điền nhìn nhận, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã đã phát huy tốt vai trò định hướng, tinh thần chủ động, sáng tạo trong tuyên truyền, vận động và đồng hành với hội viên phát triển kinh tế. Nhiều hội viên phụ nữ mạnh dạn khởi nghiệp, phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập. Thời gian tới, Đảng ủy đề nghị Hội Liên hiệp Phụ nữ xã tiếp tục làm tốt vai trò đồng hành, kết nối và hỗ trợ phụ nữ về vốn, kiến thức, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, mở rộng thị trường; phát hiện, nhân rộng mô hình phụ nữ làm kinh tế hiệu quả để tạo sức lan tỏa trong cộng đồng.

CÔNG TÚ - GIANG BIÊN

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/ho-tro-phu-nu-phat-trien-kinh-te-3352811.html