Hoàn thiện quy định về nuôi con nuôi, bảo đảm môi trường sống an toàn cho trẻ em
Chiều 2/11, thảo luận về dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), đại biểu Vũ Tiến Dũng (Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa) cho rằng, việc sửa đổi luật cần hướng đến mục tiêu cao nhất là bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em. Trong đó, các quy định về điều kiện nhận con nuôi cần được rà soát chặt chẽ, nghiên cứu bổ sung cơ chế hạn chế quyền nhận con nuôi đối với người từng có hành vi bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em trên cơ sở đánh giá cụ thể tính chất và mức độ vi phạm.

Đại biểu Vũ Tiến Dũng, Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội
Bảo đảm quyền được biết về nguồn gốc của con nuôi
Đánh giá về dự thảo Luật, đại biểu Vũ Tiến Dũng cơ bản thống nhất với sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện nhằm khắc phục những bất cập trong thực tiễn, hoàn thiện hành lang pháp lý và bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em cũng như các chủ thể liên quan.
Theo đại biểu, hiệu quả của chính sách nuôi con nuôi không chỉ được thể hiện ở việc hoàn tất các thủ tục pháp lý mà quan trọng hơn là bảo đảm cho trẻ em có được môi trường gia đình ổn định, an toàn, được chăm sóc và phát triển. Đây phải là yêu cầu xuyên suốt khi xây dựng, hoàn thiện các quy định của Luật.
Liên quan đến quyền được biết về nguồn gốc của người được nhận làm con nuôi, đại biểu đề nghị dự thảo cần cụ thể hóa trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong việc thu thập, bảo quản, lưu trữ và cung cấp thông tin. Đối với những hồ sơ đã lập từ lâu nhưng không đầy đủ, bị thất lạc hoặc hư hỏng, cần có phương án xử lý phù hợp để không làm ảnh hưởng đến quyền tiếp cận thông tin của người được nhận làm con nuôi. Đồng thời, cần quy định rõ trình tự, thủ tục cung cấp thông tin trong cả trường hợp nuôi con nuôi trong nước và có yếu tố nước ngoài. Việc tiếp cận thông tin phải tính đến độ tuổi, sự trưởng thành và khả năng nhận thức của người được nhận làm con nuôi, đồng thời bảo vệ quyền riêng tư của cha mẹ đẻ và những người có liên quan.

Toàn cảnh phiên họp. Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội
Đối với việc ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong lĩnh vực nuôi con nuôi, đại biểu đề nghị làm rõ trách nhiệm cập nhật, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan chức năng. Những thông tin đã được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu và đủ điều kiện khai thác theo quy định cần được sử dụng để phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, hạn chế yêu cầu người dân phải kê khai, cung cấp nhiều lần.
Cùng với đó, phải thiết lập cơ chế phân quyền truy cập, kiểm soát và bảo mật dữ liệu, nhất là những thông tin nhạy cảm liên quan đến nguồn gốc và hoàn cảnh gia đình của trẻ em.
Kiểm soát điều kiện người nhận con nuôi, phòng ngừa nguy cơ xâm hại trẻ
Góp ý về Điều 14 quy định điều kiện của người nhận con nuôi, đại biểu Vũ Tiến Dũng đồng tình với việc bổ sung nội dung “và đang trong thời gian thử thách” sau cụm từ “bị kết án phạt tù nhưng được hưởng án treo” tại điểm d khoản 4.
Theo đại biểu, việc bổ sung này giúp xác định cụ thể hơn đối tượng thuộc diện hạn chế, tránh cách hiểu không thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật. Đồng thời, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định hạn chế quyền nhận con nuôi đối với những người từng bị xử phạt về hành vi bạo lực gia đình hoặc xâm hại trẻ em. Đây là vấn đề cần được xem xét nhằm chủ động phòng ngừa nguy cơ trẻ em bị đặt vào môi trường chăm sóc không an toàn.

Các đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp. Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội
Tuy nhiên, việc hạn chế không nên áp dụng một cách cứng nhắc đối với tất cả các trường hợp; mà cần căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, khoảng thời gian kể từ khi xảy ra vi phạm và khả năng tái diễn để đánh giá. Quá trình xem xét phải có cơ chế xác minh thông tin, đánh giá thực chất khả năng chăm sóc, bảo vệ trẻ của người nhận con nuôi.
Đại biểu cũng lưu ý, các tiêu chuẩn, điều kiện nhận con nuôi cần được đối chiếu với quy định về bảo vệ trẻ em trong các hình thức chăm sóc thay thế theo Luật Trẻ em, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc bảo vệ trẻ không dừng lại ở thời điểm hoàn tất thủ tục nhận con nuôi mà phải được duy trì trong suốt quá trình trước, trong và sau khi xác lập quan hệ nuôi con nuôi.
Đối với quy định về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi tại khoản 2 Điều 26, đại biểu đề nghị tiếp tục làm rõ quan hệ pháp lý giữa con nuôi với cha mẹ nuôi và cha mẹ đẻ, đặc biệt trong trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi.
Theo đó, cần xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ của người cha hoặc mẹ đẻ còn lại sau khi quan hệ nuôi con nuôi được xác lập; đồng thời rà soát, đối chiếu với Luật Hôn nhân và gia đình, nhất là các quy định về trách nhiệm của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Điều này nhằm tránh những khoảng trống hoặc cách hiểu khác nhau khi giải quyết các quan hệ pháp lý phát sinh.
Một nội dung khác được đại biểu đề cập là hệ quả đối với quyền thừa kế giữa con nuôi và cha mẹ đẻ. Đại biểu cho rằng, cần đánh giá kỹ tác động của chính sách, bảo đảm sự tương thích với Bộ luật Dân sự; làm rõ việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có làm chấm dứt toàn bộ quyền thừa kế theo pháp luật giữa con nuôi và cha mẹ đẻ hay không.
Trường hợp có quy định chấm dứt quyền thừa kế thì phải xác định rõ căn cứ, phạm vi và điều kiện áp dụng, bảo đảm quyền tài sản hợp pháp của trẻ em, hạn chế phát sinh tranh chấp.

Quang cảnh phiên họp. Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội
Từ những vấn đề trên, đại biểu Vũ Tiến Dũng đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật theo hướng cụ thể hóa nguyên tắc lấy trẻ em làm trung tâm, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức trong tổ chức thực hiện. Mục tiêu cuối cùng là không chỉ hoàn thiện quy trình pháp lý mà phải bảo đảm thực chất quyền được sống trong môi trường gia đình an toàn, được yêu thương, chăm sóc và có điều kiện phát triển toàn diện của mỗi trẻ em.

