Hoàn thiện thể chế, đưa phúc lợi động vật trở thành nền tảng của chăn nuôi bền vững
Phúc lợi động vật ngày càng được quan tâm trong chăn nuôi, vận chuyển, giết mổ và nghiên cứu khoa học, không chỉ vì yêu cầu đối xử nhân đạo mà còn gắn với sức khỏe vật nuôi, an toàn thực phẩm, hiệu quả sản xuất và yêu cầu của thị trường...

Trang trại chăn nuôi lợn của Công ty BAF. Ảnh: BAF Việt Nam.
Tại hội thảo “Phúc lợi động vật - Đề xuất thể chế, chính sách và thực thi” do Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam tổ chức ngày 23/9/2026, tại Hà Nội, các chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp cho rằng Việt Nam cần sớm hoàn thiện khung chính sách, tiêu chuẩn và cơ chế giám sát để đưa phúc lợi động vật trở thành một phần của quá trình phát triển chăn nuôi bền vững.
CẦN MỘT KHUNG CHÍNH SÁCH THỐNG NHẤT
Phát biểu tại hội thảo, TS Hạ Thúy Hạnh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam, cho biết Việt Nam đang từng bước chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu tập trung vào phòng chống dịch bệnh, năng suất và an toàn thực phẩm sang quan tâm toàn diện hơn đến phúc lợi động vật trong toàn bộ chuỗi sản xuất.
Luật Thú y năm 2015 và Luật Chăn nuôi năm 2018 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng, với các quy định về chăm sóc, nuôi dưỡng, vận chuyển phù hợp với từng loài, giảm thiểu đau đớn, sợ hãi và bảo đảm đối xử nhân đạo với động vật.

Quang cảnh hội thảo.
Tuy nhiên, phúc lợi động vật hiện không chỉ được hiểu là tránh đánh đập hay hành hạ. Theo định nghĩa của Tổ chức Thú y Thế giới (WOAH), nội dung này bao gồm sức khỏe, dinh dưỡng, môi trường sống, khả năng thể hiện hành vi tự nhiên và trạng thái tinh thần của vật nuôi.
Với quy mô gần 599 triệu con gia cầm, sản lượng thịt lợn hơn 5,2 triệu tấn và khoảng 20,2 tỷ quả trứng mỗi năm, yêu cầu nâng cao phúc lợi động vật có tác động tới một số lượng rất lớn vật nuôi trong hệ thống sản xuất thực phẩm. Phạm vi này đồng thời liên quan tới động vật cảnh, động vật sử dụng trong nghiên cứu, vận chuyển, giết mổ, nuôi nhốt hoang dã và thủy sản.

TS Hạ Thúy Hạnh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam.
Một hạn chế hiện nay là các quy định về phúc lợi động vật còn nằm rải rác trong nhiều luật, chưa hình thành một khung pháp lý thống nhất và chưa có định nghĩa pháp lý đầy đủ về “phúc lợi động vật”. Tiêu chí đánh giá đối với từng loài và từng công đoạn sản xuất còn thiếu, trong khi cơ chế giám sát, thực thi chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.
Đáng chú ý, Việt Nam chưa có hệ thống dữ liệu quốc gia đầy đủ về phúc lợi động vật. Những thông tin như số cơ sở đạt tiêu chuẩn, tỷ lệ động vật bị thương hoặc chết trong quá trình vận chuyển, hiệu quả gây ngất tại cơ sở giết mổ hay mức độ áp dụng nguyên tắc phúc lợi trong nghiên cứu khoa học chưa được thống kê đầy đủ.
Vì vậy, xây dựng Hệ thống thông tin quốc gia về phúc lợi động vật được xác định là một yêu cầu cần thiết, nhằm phục vụ quản lý, giám sát và hoạch định chính sách.
Định hướng giai đoạn 2026-2035 là xây dựng khung chính sách quốc gia, hoàn thiện tiêu chuẩn theo từng loài, phát triển bộ chỉ số giám sát, đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng các chương trình chứng nhận phù hợp với điều kiện Việt Nam.
LẤY VẬT NUÔI LÀM TRUNG TÂM
Từ thực tiễn doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn Minh, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp BAF Việt Nam, cho rằng phúc lợi động vật không chỉ là yêu cầu tuân thủ pháp luật và các chuẩn mực quốc tế mà còn gắn với năng lực cạnh tranh và niềm tin của người tiêu dùng.
Trong mô hình chuỗi khép kín 3F (Feed - Farm - Food), BAF lồng ghép phúc lợi động vật từ sản xuất thức ăn, chăm sóc tại trang trại đến vận chuyển và giết mổ. Trong đó, vận chuyển được xác định là một mắt xích có rủi ro cao, cần kiểm soát chặt chẽ mật độ, vi khí hậu và thao tác.

Ông Nguyễn Văn Minh, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp BAF Việt Nam.
BAF đã ban hành Quyết định 338/2025/QĐ-BAF cùng các quy trình về chăm sóc sức khỏe, an toàn sinh học và kiểm soát thú y. Đến nay, doanh nghiệp có 15 trang trại đạt chuẩn GLOBAL S.L.P. và nhà máy Long An đạt chứng nhận FSSC 22000.
Doanh nghiệp cũng ứng dụng công nghệ để hình thành vòng kiểm soát khép kín, kết nối cảm biến, camera giám sát vi khí hậu, lượng thức ăn, nước uống với hồ sơ thú y số và hệ thống cảnh báo hiện trường. Tuy nhiên, theo ông Minh, công nghệ chỉ hỗ trợ phát hiện rủi ro, còn quyết định can thiệp chuyên môn vẫn thuộc về bác sĩ thú y và nhân sự phụ trách tại chỗ.
Từ thực tế triển khai, BAF kiến nghị xây dựng khung chính sách quốc gia, tiêu chuẩn kỹ thuật theo từng loài, lộ trình chuyển đổi phù hợp và có chính sách hỗ trợ các cơ sở chăn nuôi nhỏ trong quá trình thực hiện.
TS Nguyễn Thị Hương, Phó Trưởng Bộ môn Di truyền và Đa dạng sinh học, Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam, nhấn mạnh phúc lợi động vật phải được nhìn nhận trên cả phương diện thể chất và tinh thần của con vật, thay vì chỉ tập trung vào điều kiện chuồng trại.

TS Nguyễn Thị Hương, Phó Trưởng Bộ môn Di truyền và Đa dạng sinh học, Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam.
Cách tiếp cận phúc lợi động vật đang chuyển từ “5 quyền tự do” sang mô hình “5 lĩnh vực”, gồm dinh dưỡng, môi trường, sức khỏe, hành vi và trạng thái tinh thần. Cách tiếp cận này gắn với nguyên tắc “Một sức khỏe” (One Health). Khi vật nuôi khỏe mạnh, ít stress và được sống trong môi trường phù hợp, nhu cầu sử dụng thuốc thú y và kháng sinh có thể giảm, qua đó góp phần nâng cao an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe con người.
Một điểm quan trọng là đánh giá phải lấy con vật làm trung tâm. Các tiêu chí không chỉ dựa vào cơ sở vật chất mà cần đo lường trực tiếp trên vật nuôi thông qua thể trạng, tỷ lệ thương tích, chấn thương, hiện tượng què, biểu hiện hành vi và phản ứng stress.
Để khái niệm phúc lợi động vật dễ tiếp cận hơn với người chăn nuôi, Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam đưa ra thông điệp “5 tốt”: ăn tốt, ở tốt, khỏe tốt, hành vi tốt và tinh thần tốt. Đồng thời đề xuất lộ trình 2026-2030, bắt đầu bằng chuẩn hóa quy định và xây dựng bộ tiêu chí trong năm 2026, thí điểm tại các chuỗi sản xuất năm 2027, nhân rộng năm 2028, tích hợp toàn chuỗi năm 2029 và đánh giá, tổng kết vào năm 2030.
Theo các chuyên gia, cùng với hoàn thiện thể chế, Việt Nam cần xây dựng hướng dẫn kỹ thuật cụ thể cho từng loài như lợn, gia cầm, trâu bò ở các khâu nuôi dưỡng, vận chuyển và giết mổ; đồng thời tăng cường đào tạo nhân lực, số hóa dữ liệu và nâng cao năng lực giám sát.
