Hoạt động khuyến học trong xây dựng trường học ở làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ thời xưa
Xây dựng trường học lấy làm nơi học tập cho con em ở các làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi được coi là vùng đất có truyền thống hiếu học lâu đời nhất trong cả nước luôn được coi trọng.
Trong cơ chế của nền giáo dục khoa cử có sự phân định người dân là nơi chăm lo giáo dục, còn nhà nước là nơi tuyển chọn nhân tài. Điều này đồng nghĩa làng xã phải chủ động trong xây dựng trường lớp lấy làm nơi học tập cho con em địa phương mà không trông cậy vào kinh phí nhà nước.

Học xá điền thổ bi ký, tạo niên hiệu Chính Hòa thứ 23 (1702), ghi lập hương học sớm nhất ở nước ta.
Ngôi trường học sớm nhất được xây dựng theo hình thức này là vào đầu thế kỷ XVIII, phản ánh trên văn bia chữ Hán có tiêu đề Học xá điền thổ bi ký (Bia ghi đặt ruộng đất trường học), dựng niên hiệu Chính Hòa thứ 23 (1702) của hai xã Văn Trưng và Lăng Trưng, huyện Bạch Hạc (nay là xã Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ).
Văn bia cho biết: "Làng ta là nơi văn vật, sinh ra nhân tài ở đây, chẳng phải không nhiều; người ham chuộng thi thư ở đây, không phải là ít, nhưng trường học của làng chưa dựng, giáo pháp còn thô sơ, e rằng việc học sẽ do từng hộ khởi phát, triệt đường tiến bước, chẳng phải là để dẫn dủ hậu học".
Do vậy người dân trong hai xã "không hẹp hòi gia sản, quyên góp ruộng đất" để xây dựng trường học. Tổng cộng được 4 mẫu 7 sào 5 thước do 45 cặp vợ chồng của hai địa phương đóng góp, trong đó trích 3 sào đất dùng xây dựng một ngôi trường cho học sinh hai xã. Theo người dân nơi đây, lập trường học chung như thế "là có ích với quốc gia".
Đến cuối thế kỷ XVIII, vào niên hiệu Cảnh Hưng thứ 28 (1767), một ngôi trường dân lập khác cũng do người dân xuất tiền của xây dựng nhưng của một xã là Phú Đa của huyện Bạch Hạc (nay là xã Vĩnh Phú, tỉnh Phú Thọ).
Người dân ở đây cho rằng: "Hễ thành phong tục, không gì bằng việc học", mới cùng nhau đóng góp được 800 quan cổ tiền, trích một phần tiền xây dựng thành hai dãy nhà học, mỗi dãy 5 gian.
Cách làm như vậy thấy ở thời Tây Sơn, vào niên hiệu Quang Trung thứ 5 (1792), xã Mục Xá, huyện Thanh Oai (nay là xã Thanh Oai, thành phố Hà Nội) xây dựng một ngôi trường, bởi người dân nơi đây cho biết: "Việc học là đại sự của triều đình mà mỗi làng mỗi ấp không thể thiếu việc học".
Sang triều Nguyễn, việc xây dựng trường học tại các địa phương vùng đồng bằng Bắc Bộ được triển khai mạnh mẽ. Xã Quỳnh Đô, huyện Thanh Trì (nay là thôn Quỳnh Đô, xã Thanh Trì, thành phố Hà Nội), vào năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) cho rằng: "Lập hương học từ xưa đã có, trẻ em theo nghiệp học, học tập có nơi chốn, do quan hệ đến phong hóa, ở chỗ đây là việc thiện".
Theo văn bia của xã, việc lập hương học ở đây do cá nhân và tập thể cùng đóng góp tài sản, trong đó có 17 cá nhân và 3 tập thể là thôn Thọ Phú, Bác Văn và Phó Lương.
Mức độ đóng góp khác nhau, người nhiều kẻ ít, thôn ít thôn nhiều, tùy khả năng của cá nhân và tập thể. Điều này cho thấy người dân xã Quỳnh Đô rất quan tâm đến học tập cho con em của xã, cùng nhau đóng góp tài sản, không phân biệt giàu nghèo, xây dựng thành một ngôi trường cho con em địa phương học tập.

Văn chỉ Nguyệt Ánh, Ngọc Hà, Hà Nội có bia ghi danh các bậc khoa bảng của làng.
Xã Địch Lộng, huyện Gia Viễn (nay là xã Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình) trong mục "Lập học xá lệ" (Lệ lập trường học) của xã vào năm Tự Đức thứ 2 (1849) xác định: "Việc dạy học phải lấy làm đầu trong việc dựng nước của quân dân ta, là điều tốt của đế vương" đã cùng nhau xuất tài sản xây dựng một ngôi trường 5 gian, tọa lạc trên diện tích 1 sào đất vườn, xung quanh trồng cau.
Đến giữa thế kỷ XIX, vào năm 1853, nhà nước "Chuẩn cho các địa phương có nơi nào để trống ruộng công, tư làm trường hương học, để dạy con em trong làng, trọng giáo hóa, hậu phong tục, thì đều cho tùy theo sự tiện lợi của dân". Chỉ dụ này có tác động lớn trong việc xây dựng trường học ở khắp các địa phương.
Theo đó thôn Hạnh Đàn, xã Lại Thượng, huyện Thạch Thất (nay là thôn Thượng, xã Thạch Thất, thành phố Hà Nội) cho xây dựng 2 ngôi trường làng. Thôn Trạch Lôi, xã Trạch Mỹ Lộc, huyện Phúc Thọ (nay là xã Phúc Lộc, thành phố Hà Nội) cũng xây dựng 2 ngôi trường: 1 ngôi 3 gian 2 chái; 1 ngôi 5 gian, đều dựng trên đất công của thôn.
Năm Tự Đức thứ 23 (1870), xã Yên Viên, huyện Việt Yên (nay là phường Vân Hà, thành phố Bắc Ninh), người dân nơi này cho biết: " Bản ấp thẹn vì mang tiếng là nơi trung châu nhưng khoa mục chưa có nhiều thành tựu, âu cũng do chưa có trường lớp mà cũng chưa có ruộng để nuôi dưỡng thầy", nhân vì thế người dân trong xã quyên góp thành 60 quan tiền xây dựng một ngôi trường học đặt phía trước Văn chỉ, gồm 3 gian lợp ngói.
Tương tự như thế là xã Tăng Nhi, huyện Thanh Ba (nay là xã Liên Minh, tỉnh Phú Thọ), vào năm Tự Đức thứ 36 (1883), dân xã chọn được thế đất tiện lợi gần Văn chỉ, mới dựng một ngôi trường học, quy định: "Người nào trong xã có con em lên 7 tuổi phải bảo cho đi học tại trường làng, không để du đãng".
Tại các vùng khai khẩn ở duyên hải, như huyện Hải Hậu của tỉnh Nam Định, việc xây hương học cũng được chú ý. Đó là xã Quần Phương Thượng, vào năm Tự Đức thứ 32 (1879) xây dựng một ngôi trường đặt tên là " Nghĩa học" (Trường học dạy lễ nghĩa).
Cùng năm đó xã Quần Phương Đông cũng xây dựng một ngôi trường giống như của xã Quần Phương Thượng (hai xã này nay thuộc địa bàn xã Hải Hậu, tỉnh Ninh Bình).
Bên cạnh đó, cũng cần nhắc đến vai trò của cá nhân trong xây dựng trường học cho con em trong làng học tập, như Tri sự Nguyễn Trọng Điển, người thôn Đông, xã Vĩnh Mỗ, huyện Yên Lạc (nay là thôn Vĩnh Đông 2, xã Yên Lạc, tỉnh Phú Thọ), vào năm Gia Long thứ 9 (1810), hiến cho thôn 1 khu đất làm trường học.
Ngôi trường đó đến năm Thiệu Trị thứ 2 (1841) bị đổ nát, một số người trong thôn tự nguyện đứng ra tu bổ, khiến ngôi trường vững chãi, giữ nề nếp học tập cho con em trong làng được thuận lợi.
Hoặc vợ chồng ông Nguyễn Đình Tiền và gia đình bà Đỗ Thị Chất, người xã Thế Trưng, huyện Bạch Hạc (nay là xã Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ), vào năm Tự Đức Kỷ Mùi (1859), mỗi gia đình xuất 100 quan tiền cùng 3 sào ruộng làm kinh phí cho xã xây dựng trường học, được người dân bản xã tôn bầu vợ chồng ông Nguyễn Đình Tiền và bà Đỗ Thị Chất làm Hậu Phật.
Như vậy, việc xây dựng trường lớp do người dân đóng góp tài sản, lấy làm nơi học tập cho con em địa phương, kết hợp với trường tư thục do những ông Đồ của những gia đình khá giả mời về dạy học cho em em của họ là thực tiễn khách quan diễn ra ở vùng đồng bằng Bắc Bộ trong giai đoạn từ Lê Trung Hưng đến triều Nguyễn, góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước ở giai đoạn này.
*TS Nguyễn Hữu Mùi, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, hiện là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long.
