Học ngoại ngữ trên những con tàu ở Hải đoàn Biên phòng 18
Đặc thù thường xuyên cơ động, thực hiện nhiệm vụ dài ngày trên biển khiến Hải đoàn Biên phòng 18 khó tổ chức các lớp học ngoại ngữ theo hình thức tập trung. Từ thực tế đó, đơn vị lựa chọn cách làm phù hợp với điều kiện của mình: xây dựng đội ngũ giảng viên tại chỗ, tổ chức học ngay trên tàu, lấy tự học làm chính và phát huy vai trò của cán bộ, đoàn viên có kiến thức ngoại ngữ. Cách làm này từng bước đưa việc học ngoại ngữ trở thành nền nếp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị.

Một buổi học ngoại ngữ của cán bộ, chiến sĩ Hải đoàn Biên phòng 18. Ảnh: Nguyễn Thành Phú
Tự tạo nguồn giảng viên, tổ chức học ngay trên tàu
Tàu BP-27-01-06 thuộc biên chế Hải đội 1, Hải đoàn Biên phòng 18 đang làm nhiệm vụ trên biển. Trong buồng điều khiển, nhiều hướng dẫn sử dụng thiết bị được thể hiện bằng tiếng Anh. Thượng úy Trần Quân, Thuyền trưởng, đọc và dịch khá trôi chảy những nội dung này khi giới thiệu về con tàu.
Ở phòng sinh hoạt của tàu, một nhóm cán bộ, chiến sĩ đang cùng nhau ôn bài. Người hướng dẫn là Thượng úy Mai Văn Tùng, bác sĩ, Tổ trưởng Tổ “Giáo viên” của Hải đoàn. Không có phòng học riêng, không có lớp học cố định, việc học diễn ra ngay trên tàu, trong khoảng thời gian phù hợp với nhiệm vụ. Đây là cách Hải đoàn Biên phòng 18 giải bài toán thiếu điều kiện tổ chức các lớp ngoại ngữ tập trung. Là đơn vị thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vùng biển phía Nam của Tổ quốc, mỗi đợt tuần tra của đơn vị thường kéo dài cả tháng. Sau mỗi đợt, khoảng thời gian 1 tuần đến 10 ngày được dành cho kiểm tra kỹ thuật tàu, chuẩn bị lương thực, thực phẩm, nước ngọt trước khi tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Với đặc thù đó, việc duy trì một lớp học có giáo viên từ bên ngoài đến giảng dạy thường xuyên không phù hợp. Hải đoàn lựa chọn phương án xây dựng nguồn giảng viên ngay trong đơn vị.
Tổ “Giáo viên” của Hải đoàn gồm 5 đồng chí, do Thượng úy Mai Văn Tùng làm Tổ trưởng. Các thành viên được đào tạo ngoại ngữ tại các học viện, nhà trường trong Quân đội. Sau khi về đơn vị, những cán bộ này tiếp tục tự học, tham gia các lớp nâng cao để củng cố kiến thức và kỹ năng giảng dạy. Nguồn giảng viên tại chỗ được bố trí ở các hải đội, bộ phận và biên đội tàu. Nhờ vậy, khi cán bộ, chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ trên biển, việc học ngoại ngữ vẫn có thể duy trì.
Thượng úy Mai Văn Tùng cho biết, tuy đã được đào tạo tiếng Anh tại Học viện Quân y nhưng khi được giao nhiệm vụ truyền đạt ngoại ngữ cho cán bộ, chiến sĩ, anh phải tiếp tục tự học để nâng cao trình độ và phương pháp giảng dạy. Quá trình này giúp anh đạt chứng chỉ IELTS 6.5. Không chỉ bổ sung kiến thức ngoại ngữ, các thành viên trong Tổ “Giáo viên” còn phải tự tìm phương pháp truyền đạt phù hợp với đối tượng học viên là cán bộ, chiến sĩ đang thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Việc soạn bài, chuẩn bị nội dung học tập được thực hiện bằng các thiết bị công nghệ, kết hợp với những tình huống gần với công việc thực tế của đơn vị. Cách làm này giúp việc học ngoại ngữ không tách rời thực hiện nhiệm vụ. Những từ ngữ, mẫu câu, nội dung liên quan đến hoạt động tuần tra, sử dụng trang thiết bị, giao tiếp và thực hiện nhiệm vụ trên biển được đưa vào quá trình học tập. Đó cũng là điểm khác của việc học ngoại ngữ ở một đơn vị thường xuyên cơ động trên biển: bài học phải theo được người lính ra biển.
Đưa ngoại ngữ vào sinh hoạt, công tác hằng ngày
Trên tàu BP-27-01-06, việc học ngoại ngữ được thực hiện vào những khoảng thời gian phù hợp với nhiệm vụ. Cán bộ, chiến sĩ tranh thủ ngày nghỉ, giờ nghỉ để ôn từ vựng, luyện nghe, nói, đọc và trao đổi bài với nhau. Thượng úy Trần Quân chia sẻ, để nhớ bài lâu và sử dụng được từ vựng, cán bộ, chiến sĩ trên tàu cố gắng dành thời gian học ngoài giờ làm việc. Trong các buổi học, mọi người được khuyến khích sử dụng ngoại ngữ nhiều nhất có thể, tập trung vào những kỹ năng có thể vận dụng trong thực tế.

Các “giáo viên” kiêm nhiệm và cán bộ tham gia học ngoại ngữ trao đổi về nội dung bài học. Ảnh: Nguyễn Thành Phú
Không chỉ tổ chức các lớp học, Hải đoàn còn phát huy vai trò của tuổi trẻ trong việc tạo môi trường sử dụng ngoại ngữ thường xuyên. Đoàn cơ sở duy trì các hoạt động như “Tuổi trẻ Hải đoàn 18 xung kích học tập ngoại ngữ”, “Câu lạc bộ ngoại ngữ tàu BP 27-01-02” và tổ chức xem bản tin tiếng Anh trên VTV1. Một số hoạt động sinh hoạt, giao lưu thể thao cũng được sử dụng để rèn luyện ngoại ngữ. Đoàn cơ sở tổ chức thuyết minh các trận thi đấu bóng chuyền, cầu lông, trao đổi về nhiệm vụ bằng tiếng Anh; hằng tuần tổ chức sinh hoạt theo chủ đề, khuyến khích đoàn viên, thanh niên sử dụng tiếng Anh trong trao đổi.
Thiếu tá Hoàng Thế Anh, Phó Bí thư Đoàn cơ sở Hải đoàn Biên phòng 18 cho biết, việc học tiếng Anh được tuổi trẻ đơn vị gắn với yêu cầu làm chủ vũ khí, trang bị và thực hiện nhiệm vụ trên biển. Đoàn cơ sở cũng phối hợp với các tổ chức quần chúng ở địa phương, đơn vị kết nghĩa, nhà trường trên địa bàn tổ chức giao lưu, tạo điều kiện để đoàn viên, thanh niên thực hành ngoại ngữ. Phương châm “Người biết dạy người chưa biết”, “Người biết nhiều dạy người biết ít”, “Thế hệ trước dạy cho thế hệ sau” được Hải đoàn duy trì cùng với yêu cầu “Lấy tự học làm cốt”. Từ năm 2024 đến nay, đơn vị đã tổ chức 6 lớp cho gần 400 lượt cán bộ, chiến sĩ học ngoại ngữ; trong đó có 12 đồng chí đạt chứng chỉ ngoại ngữ B1 và B2, 1 đồng chí đạt chứng chỉ IELTS 6.5.
Đại tá Hồ Văn Sỹ, Chính ủy Hải đoàn Biên phòng 18 cho biết, nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ, chiến sĩ là yêu cầu đặt ra trong thực hiện nhiệm vụ hiện nay. Vì vậy, Đảng ủy, Ban Chỉ huy Hải đoàn duy trì việc học ngoại ngữ trong đơn vị, gắn kết quả học tập với đánh giá, thi đua hằng năm.
Từ phòng học trên tàu đến những buổi sinh hoạt của đoàn viên, thanh niên, ngoại ngữ đang được cán bộ, chiến sĩ Hải đoàn Biên phòng 18 học và sử dụng theo cách phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị. Không chờ có đủ điều kiện mới tổ chức học, đơn vị chủ động tạo người dạy, tạo môi trường học và tận dụng những khoảng thời gian có thể để duy trì việc học. Với một đơn vị thường xuyên cơ động trên biển, đó là cách để kiến thức ngoại ngữ không chỉ nằm trong giáo trình, mà từng bước trở thành một phần của yêu cầu công tác và huấn luyện hằng ngày.
