Học tiếng đồng bào, đưa pháp luật 'đi vào lòng dân'
Tại các địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, rào cản tiếng nói và tập tục từng là khoảng cách vô hình khiến công tác đưa Hiến pháp, pháp luật, các chính sách về đất đai, hôn nhân, lao động... đến với người dân gặp không ít khó khăn. Từ thực tiễn đó, việc cán bộ, chiến sĩ chủ động học tiếng đồng bào và triển khai các lớp bồi dưỡng bài bản đang trở thành chiếc cầu nối vững chắc, đưa luật pháp và chính sách đi sâu vào đời sống từng nếp nhà.

Việc học ngôn ngữ dân tộc thiểu số đã giúp các cán bộ vùng cao vượt qua rào cản giao tiếp, từ đó phục vụ nhân dân tốt hơn. Ảnh minh họa: QUANG DƯƠNG
Khi câu lệnh pháp lý cần "tiếng nói của buôn làng"
Về với các xã miền núi trong những năm gần đây, không khó để nhận ra những đổi thay tích cực trong đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào. Tuy nhiên, đằng sau những cung đường bê tông hóa hay những mái nhà khang trang, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật tại cơ sở vẫn vấp phải một "bức tường" mang tên ngôn ngữ.
Đối với nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là người lớn tuổi, khả năng sử dụng tiếng phổ thông còn hạn chế. Trong khi đó, các văn bản quy phạm pháp luật - từ Hiến pháp, các chính sách dân tộc, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cho đến những lĩnh vực thiết thân như đất đai, nhà ở, hôn nhân và gia đình, lao động hay bảo vệ môi trường - vốn mang tính quy phạm, hàn lâm và nhiều thuật ngữ chuyên môn.
Nếu chỉ truyền tải bằng tiếng phổ thông hoặc thông qua loa phóng thanh một chiều, người dân rất khó tiếp thu trọn vẹn. Hệ quả là không ít trường hợp vì thiếu hiểu biết pháp luật mà vướng vào tranh chấp đất đai nhỏ lẻ, lúng túng trong thủ tục làm nhà ở, hoặc vẫn còn vướng mắc về các quy định mới trong hôn nhân, lao động và bảo vệ rừng phòng hộ. Bài toán đặt ra cho lực lượng làm công tác cơ sở là làm thế nào để luật pháp không chỉ "nằm trên giấy" mà phải chạm đến nhận thức của từng người dân.
Chủ động học tiếng để thấu lòng dân
Giải "bài toán" ấy không có con đường nào ngắn hơn việc cán bộ phải đi sát thực tế, chủ động phá bỏ khoảng cách ngôn ngữ. Tại nhiều địa phương như Quảng Ngãi, phong trào cán bộ, chiến sĩ công tác tại vùng cao tự học tiếng đồng bào (như tiếng Hrê, Ba Na...) đã trở thành nét đẹp trong tác phong "gần dân, trọng dân".
Những câu chào hỏi bằng tiếng bản địa, những lời thăm nom ân cần khi xuống thôn xóm được xem là chiếc chìa khóa mở lòng đồng bào. Khi rào cản ngôn ngữ được tháo gỡ, các buổi tuyên truyền pháp luật không còn là những buổi họp khô khan, cứng nhắc. Thay vào đó, cán bộ cơ sở có thể lồng ghép khéo léo các quy định về quyền và nghĩa vụ công dân, các điểm mới về Luật Đất đai, chính sách hỗ trợ nhà ở, hay việc bài trừ tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống bằng chính cách diễn đạt mộc mạc, gần gũi của người bản địa.
Bà con nghe quen tai, hiểu thấu tình đạt lý, từ đó tự giác chấp hành, biết cách bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của gia đình mình trước các quy định của pháp luật.

Trường Cao đẳng Kon Tum phối hợp với Công an tỉnh Quảng Ngãi tổ chức khai giảng lớp bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số Ba Na (Bahnar), khóa IV năm 2026. Ảnh: THANH THANH
Bài bản hóa từ những lớp bồi dưỡng chuyên sâu
Để việc học tiếng đồng bào không dừng lại ở mức tự phát hay kinh nghiệm cá nhân, công tác đào tạo, bồi dưỡng đã được các đơn vị, địa phương chú trọng chuẩn hóa một cách bài bản.
Tiêu biểu như sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở giáo dục và lực lượng vũ trang, điển hình là việc Trường Cao đẳng Kon Tum phối hợp với Công an tỉnh Quảng Ngãi tổ chức khai giảng các lớp bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số (như lớp tiếng Ba Na - Bahnar). Những khóa học này trang bị cho hàng chục cán bộ, chiến sĩ trực tiếp làm nhiệm vụ tại cơ sở không chỉ vốn từ vựng phong phú mà còn là sự thấu hiểu sâu sắc về phong tục, tập quán, văn hóa ứng xử của đồng bào.
Phát biểu tại buổi khai giảng lớp bồi dưỡng kiến thức dân tộc cho đối tượng 4 năm 2026 của công an tỉnh Quảng Ngãi, Đại tá Võ Văn Dương - Phó Giám đốc Công an tỉnh - nhấn mạnh, công tác bồi dưỡng kiến thức dân tộc có ý nghĩa thiết thực đối với cán bộ, chiến sĩ, nhất là trong thực hiện nhiệm vụ tại những địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Việc trang bị kiến thức về dân tộc, chính sách dân tộc và đặc điểm văn hóa, xã hội của các dân tộc góp phần nâng cao hiệu quả công tác nắm tình hình, tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ tại cơ sở. Đồng thời cũng thực hiện hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phục vụ tốt yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn.
Nhờ được đào tạo bài bản, đội ngũ cán bộ khi xuống cơ sở có đủ sự tự tin và linh hoạt để giải thích rành mạch cho người dân hiểu:
Về chính sách đất đai, nhà ở: Hướng dẫn bà con thực hiện đúng quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý và sử dụng đất rừng đúng pháp luật.
Về hôn nhân, gia đình và lao động: Tuyên truyền các quy định pháp luật về độ tuổi kết hôn, bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình cũng như các chính sách việc làm, bảo vệ môi trường lao động tại địa phương.
Về quyền và nghĩa vụ công dân: Giúp đồng bào hiểu rõ vai trò của mình trong khối đại đoàn kết, tích cực tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc và giữ gìn xanh sạch môi trường sống.
Ở vùng cao, khoảng cách lớn nhất giữa chính sách của Nhà nước và đời sống thực tế của người dân đôi khi không nằm ở địa hình hiểm trở, mà nằm ở sự thấu cảm trong ngôn ngữ và văn hóa.
Những lớp học tiếng dân tộc lặng thầm, những câu chào hỏi giản dị mỗi sớm mai lên rẫy, hay những buổi hướng dẫn pháp luật bằng chính tiếng mẹ đẻ của đồng bào đang từng ngày bồi đắp niềm tin vững chắc của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và lực lượng thực thi công vụ. Đó chính là minh chứng sống động cho thấy khi pháp luật được chuyển tải bằng sự chân thành và thấu cảm, nó sẽ bén rễ sâu bền trong mỗi phum, sóc, bản làng, tạo động lực to lớn cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên phát triển bền vững./.
Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/hoc-tieng-dong-bao-dua-phap-lua-di-vao-long-dan

