Hồi ức Quảng Trị: Nguồn sử liệu quý về 81 ngày đêm lịch sử

Trong dòng chảy nghiên cứu lịch sử hiện đại Việt Nam, trận chiến 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 luôn giữ vị trí đặc biệt. Đó là một trong những trận đánh ác liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng thời cũng là minh chứng rõ rệt cho sức mạnh ý chí của dân tộc. Xét trên góc độ nghiên cứu lịch sử, khi tiếp cận cuốn sách Hồi ức Quảng Trị của tác giả Nguyễn Thụy Kha, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản lần thứ ba, độc giả sẽ có cảm nhận không chỉ là một tác phẩm ký ức mà còn là nguồn sử liệu quý giá, giúp tái hiện một giai đoạn lịch sử bi tráng, đồng thời soi chiếu nhiều khía cạnh nhân văn của chiến tranh.

Bìa cuốn sách Hồi ức Quảng Trị của tác giả Nguyễn Thụy Kha

Bìa cuốn sách Hồi ức Quảng Trị của tác giả Nguyễn Thụy Kha

Trước hết, cuốn sách cung cấp những chứng cứ sống động từ chính những người trong cuộc. Các trang nhật ký, hồi ký của những chiến sĩ trực tiếp tham gia chiến đấu ở Thành cổ Quảng Trị cho thấy sự khốc liệt của chiến tranh không phải là khái niệm trừu tượng, mà hiện hữu trong từng chi tiết đời sống. Một đoạn viết: “Cả ngày không có lúc nào là không có tiếng nổ. Nó làm cho con người thêm căng thẳng về thần kinh và rất “ngại” nghe tiếng nổ. Hầm rung chuyển, bụi khói mù mịt, mùi thuốc đạn khét lẹt. Đôi khi đạn hóa học làm cho nhiễm độc, khó thở, chảy nước mắt, nước mũi” (tr. 75-76). Câu chữ ấy vừa là tư liệu, vừa là tiếng nói trực tiếp từ chiến hào, mang giá trị lịch sử và giá trị nhân chứng đồng thời.

Hồi ức Quảng Trị mở ra khả năng đối chiếu giữa hai phía chiến tuyến. Tác giả không chỉ chọn lọc hồi ức của anh bộ đội Giải phóng mà còn đưa vào tâm sự của người lính thủy quân lục chiến bên đối phương. Qua đó, cuốn sách cho thấy sự khác biệt căn bản về lý tưởng chiến đấu: một bên vì độc lập, thống nhất Tổ quốc - “Một tháng tròn chốt trong Thành cổ Quảng Trị… nơi mà địch đã tập trung bom đạn dày chưa từng có trong lịch sử chiến tranh. Song bất chấp tất cả, chúng tôi vẫn kiên cường bám chốt. Đại đội tôi đã hy sinh 5 đồng chí, nhiều đồng chí bị sức ép nặng, bị thương. Còn ai nữa? Không biết. Chỉ biết còn người là còn chốt” (tr. 76); với một bên mang nặng tâm trạng hoang mang, chiến đấu chỉ để sinh tồn - “Còn chúng tôi, những người lính đang phải chịu đựng cho chiến tranh tàn phá cả tâm hồn và thể xác. Gian khổ triền miên. Sống chỉ còn biết bắn giết lẫn nhau. Rồi đây, ở cái thị xã đã đổ nát, chúng tôi lại tiếp tục bắn giết lẫn nhau, để giành lại đống đổ nát đó, thật phi lý” (tr. 124). Dưới góc nhìn sử học, chi tiết này đặc biệt quan trọng, bởi nó phản ánh tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, đồng thời thể hiện sự nhân bản khi ghi nhận cả những bi kịch phía bên kia.

Một điểm giá trị khác của tác phẩm là khả năng gắn kết đại tự sự với tiểu tự sự. Lịch sử thường được ghi lại bằng những sự kiện lớn, con số thống kê, chiến lược quân sự. Nhưng ở Hồi ức Quảng Trị, chúng ta thấy những “lịch sử nhỏ”, câu chuyện về một mẩu bánh chuyền tay trong hầm trú ẩn, hay ánh mắt động viên nhau trước giờ xung phong. Một chiến sĩ đã viết: “Trong hầm trú ẩn chật hẹp, chúng tôi chuyền nhau mẩu bánh, nhìn nhau cười để quên đi tiếng bom nổ trên đầu” (tr. 198). Những chi tiết ấy, dưới góc độ sử học, chính là chất liệu để hình thành lịch sử xã hội, lịch sử tâm thức, lĩnh vực vốn khó nắm bắt nhưng vô cùng quan trọng để hiểu một cuộc chiến toàn diện.

Sự kiện Quảng Trị năm 1972 còn để lại dấu ấn sâu đậm trong ký ức cộng đồng qua biểu tượng sông Thạch Hãn. Trên màn ảnh, nhiều bộ phim đã tái hiện cảnh nước sông đỏ máu. Trong sách, chi tiết ấy được ghi lại bằng câu chữ đầy ám ảnh: “Dòng Thạch Hãn đã gồng mình chở xác bao đồng đội, như chứng nhân lặng lẽ của cuộc chiến” (tr. 276). Với nhà nghiên cứu lịch sử, đây không chỉ là một hình ảnh gợi cảm xúc, mà còn là biểu tượng ký ức tập thể, nơi ký ức cá nhân hòa quyện để trở thành ký ức dân tộc.

Điều đáng chú ý, Hồi ức Quảng Trị không khép lại ở quá khứ, mà mở ra những suy ngẫm cho hiện tại. Trong những dòng chữ cuối, người chiến sĩ gửi gắm: “Máu xương chúng tôi gửi lại nơi này không phải để ai thương hại, mà để đất nước vươn lên mạnh mẽ” (tr. 310). Với góc nhìn sử học, đó là thông điệp quan trọng: Lịch sử không chỉ để tri ân, mà còn để kiến tạo tương lai. Cuốn sách vì thế có giá trị kép, vừa là nguồn tư liệu để nghiên cứu, vừa là tài liệu giáo dục tinh thần trách nhiệm công dân cho thế hệ trẻ.

Từ góc nhìn sử học, Hồi ức Quảng Trị có thể xem là sự bổ sung cần thiết cho kho tư liệu về chiến tranh Việt Nam. Nó không thay thế những công trình nghiên cứu chính thống, nhưng lại làm giàu cho bức tranh lịch sử bằng những mảnh ghép cá nhân. Chính những mảnh ghép này mới làm cho lịch sử trở nên sống động, gần gũi, giúp người đọc hiểu rằng đằng sau chiến công hiển hách là những con người cụ thể với nỗi nhớ nhà, với ước mơ còn dang dở, với tình đồng chí, đồng đội keo sơn.

Cuốn sách vì vậy không chỉ dành cho giới nghiên cứu mà còn hữu ích với độc giả phổ thông. Nó giúp thế hệ trẻ hôm nay hình dung rõ hơn về cái giá của hòa bình, về ý nghĩa của độc lập, tự do, đồng thời khơi dậy niềm tự hào và ý thức trách nhiệm với đất nước. Một dân tộc chỉ thật sự trưởng thành khi biết cách ghi nhớ quá khứ bằng sự khách quan, tôn trọng và lòng biết ơn. Hồi ức Quảng Trị đã làm được điều đó.

Hồi ức Quảng Trị vì thế không chỉ đơn thuần là một tập hợp hồi ký, nhật ký, mà là một tư liệu lịch sử quý giá. Cuốn sách giúp tái hiện chân thực sự khốc liệt và nhân văn của chiến tranh, đồng thời nhắc nhở hậu thế rằng hòa bình hôm nay là thành quả của máu xương biết bao thế hệ. Đó là di sản tinh thần cần được trân trọng, nghiên cứu và lan tỏa để mỗi người Việt Nam, đặc biệt là lớp trẻ, hiểu rõ hơn về trách nhiệm gìn giữ, xây dựng đất nước trong thời bình.

Phụng Thiên

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/hoi-uc-quang-tri-nguon-su-lieu-quy-ve-81-ngay-dem-lich-su-a30002.html